of 238 /238
Tiểu thuyết viết về nông thôn thời kì đổi mới (qua một số tác phẩm đoạt giải) Show full item record Title: Tiểu thuyết viết về nông thôn thời kì đổi mới (qua một số tác phẩm đoạt giải) Author : Phùng, Thị Hồng Thắm; Nghd. : PGS.TS, Lý Hoài Thu Abstra ct: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là đề tài nông thôn trong năm tiểu thuyết đoạt giải (viết từ sau 1986 – cái mốc đổi mới toàn diện đời sống xã hội nước ta): Thời xa vắng (Lê Lựu), Bến không chồng (Dương Hướng), Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường), Thủy hỏa đạo tặc (Hoàng Minh Tường), Dòng sông mía (Đào Thắng). Làm rõ sự đổi mới tư duy tiểu thuyết để thấy tư duy ấy đã chi phối quan niệm của các nhà văn về hiện thực cuộc sống và thế giới con người như thế nào. Đồng thời, nhóm tiểu thuyết viết về nông thôn được đặt trong tổng thể tiểu thuyết thời kỳ đổi mới, để thấy được cái riêng, nổi trội của đề tài này so với những đề tài khác. Tập trung nghiên cứu bức tranh hiện thực cuộc sống nông thôn và thế giới nhân vật được phản ánh chân thực, sinh động qua từng trang viết trong 5 tiểu thuyết trên. Đi sâu khai thác những phương thức biểu hiện nổi bật, thể hiện ở nghệ thuật xây dựng nhân vật, yếu tố ngôn ngữ, không gian và thời gian nghệ thuật là những phương diện cơ bản đã góp phần làm nên thành công của 5 bộ tiểu thuyết MINH TRIẾT CỦA LÀNG Trần Văn Thước sinh ngày 15- 4- 1954 tại xã Vũ Lăng, huyện Tiền

Tieu Thuyet Nong Thon

Embed Size (px)

Citation preview

Page 1: Tieu Thuyet Nong Thon

Tiểu thuyết viết về nông thôn thời kì đổi mới (qua một số tác phẩm đoạt giải)Show full item record

Title: Tiểu thuyết viết về nông thôn thời kì đổi mới (qua một số tác phẩm đoạt giải)Author: Phùng, Thị Hồng Thắm; Nghd. : PGS.TS, Lý Hoài Thu

Abstract:

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là đề tài nông thôn trong năm tiểu thuyết đoạt giải (viết từ sau 1986 – cái mốc đổi mới toàn diện đời sống xã hội nước ta): Thời xa vắng (Lê Lựu), Bến không chồng (Dương Hướng), Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường), Thủy hỏa đạo tặc (Hoàng Minh Tường), Dòng sông mía (Đào Thắng). Làm rõ sự đổi mới tư duy tiểu thuyết để thấy tư duy ấy đã chi phối quan niệm của các nhà văn về hiện thực cuộc sống và thế giới con người như thế nào. Đồng thời, nhóm tiểu thuyết viết về nông thôn được đặt trong tổng thể tiểu thuyết thời kỳ đổi mới, để thấy được cái riêng, nổi trội của đề tài này so với những đề tài khác. Tập trung nghiên cứu bức tranh hiện thực cuộc sống nông thôn và thế giới nhân vật được phản ánh chân thực, sinh động qua từng trang viết trong 5 tiểu thuyết trên. Đi sâu khai thác những phương thức biểu hiện nổi bật, thể hiện ở nghệ thuật xây dựng nhân vật, yếu tố ngôn ngữ, không gian và thời gian nghệ thuật là những phương diện cơ bản đã góp phần làm nên thành công của 5 bộ tiểu thuyết

MINH TRIẾT CỦA LÀNG

Trần Văn Thước sinh ngày 15- 4- 1954 tại xã Vũ Lăng, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, hội viên Hội nhà văn Việt Nam ( 1999)... 

MINH TRIẾT CỦA LÀNG 

ĐỨC HẬU          Trần Văn Thước sinh ngày 15- 4- 1954 tại xã Vũ Lăng, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, hội viên Hội nhà văn Việt Nam ( 1999). Từng là thợ nguội nhà máy toa xe Hữu Nghị, bị tai nạn lao động liệt hai chân từ năm 1979. Đã xuất bản 8 tập truyện ngắn và 2 tiểu thuyết về đề tài nông thôn, nông dân. Giải 3 truyện ngắn báo Văn nghệ (1989); Giải nhì bút ký báo Văn Nghệ ( 1989); Giải nhì truyện ngắn tạp chí Văn nghệ Quân đội ( 1990); Tặng thưởng truyện ngắn hay tạp chí Văn nghệ Quân đội ( 1989); Tặng thưởng truyện ngắn hay báo Văn nghệ ( 2001); Giải thưởng của Uỷ ban toàn Quốc liên hiệp VHNT Việt Nam (1998); Giải thưởng của bộ Nông nghiệp- Phát triển nông thôn và hội Nhà văn

Page 2: Tieu Thuyet Nong Thon

Việt Nam ( 2011); 2 giải thưởng VHNT Lê Quý Đôn của UBND tỉnh Thái Bình, và một số giải thưởng khác.         Cứ nghĩ cái anh nhà văn mấy chục năm không ra khỏi làng, ngày ngày đứng tựa vào cây nạng gỗ  vừa viết văn vừa giúp vợ bán hàng tạp hoá, tính nết lại hiền hoà, thơm thảo như củ khoai hạt lúa, được dân làng và bạn bè xa gần thương mến  thì thanh thản và yên ấm lắm. Ấy vậy mà cũng mấy phen lao đao vì cái vạ văn chương. Lần thứ nhất là năm 1988, khi đó Trần Văn Thước mới về quê nghỉ dưỡng thương tật được 3 năm. Bút ký " Xin hãy nghe" đăng 2 kỳ báo Văn nghệ viết về tệ nạn cường hào mới ở nông thôn của Thước gây chú ý và cảm tình của bạn đọc cả nước, nhưng lại làm một số cán bộ địa phương bất bình. Họ kết tội Thước lợi dụng đổi mới bôi nhọ cán bộ.  Một buổi sáng, người ta tổ chức  cuộc  " tiếp thu báo chí " tại hội trường làng, có đông đủ cán bộ, đảng viên tham dự. Trên nóc hội trường đặt bốn loa nén công xuất lớn chĩa ra bốn hướng truyền đi những ý kiến lên án anh nhà văn  ăn cơm của làng mà dám " vạch áo cho người xem lưng". Có người còn đòi truy tố. Dân làng đứng chật xung quanh hội trường và dọc đường làng. Tôi được Thước báo tin  từ chiều hôm trước, nên sáng  đó cũng có mặt ở làng, chứng kiến một sự kiện khá điển hình của nông thôn thời kỳ đầu đổi mới. Không khí làng xóm  căng như dây đàn,  người ngoài cuộc cũng thấy hãi, huống hồ một người mới cầm bút  như Thước. Khoảng nửa buổi sáng thì cuộc họp bỗng đổi chiều. Một số cán bộ lão thành lên tiếng bảo vệ Thước, lên án những sai trái được nêu trong bài bút ký. Nhiều dân làng ùa vào cuộc họp cướp diễn đàn  ủng hộ tác giả. Loa truyền thanh tắt. Cuộc họp giải tán không có kết luận.  Cũng thời điểm ấy, Phùng Gia Lộc ở Thanh Hoá viết bút ký " Cái đêm hôm ấy đêm gì" đã phải trốn ra Hà Nội tá túc ở nhà bạn bè  Bài bút ký gây sóng gió ấy sau được báo Văn nghệ trao giải nhì, là nguồn động viên không nhỏ với Thước. Mười năm sau, một buổi sáng có  một đoàn các cụ râu dài tóc bạc đến nhà, đặt tờ báo lên bàn và trải tấm gia phả bằng cái chiếu đôi ra trước mặt, nói với Thước: " Dòng họ chúng tôi sinh ra Công chúa mà anh viết thế này chẳng hoá ra họ chúng tôi loạn luân à?". Đó là truyện ngắn " Họ Chu Đức làng Trình" của Thước mới in. Khổ nỗi tình cờ  làng Trình Phố xã bên cũng có họ Chu rất danh giá, thời nào cũng  nhiều người đỗ đạt và làm quan, mà các cụ là những bậc trưởng lão của dòng họ ấy. Thước hoảng quá, vội phân trần với các cụ rằng đây là truyện ngắn hư cấu chứ không phải bút ký. Nhưng các cụ không chịu, vì tại sao anh lại viết đúng tên làng, tên họ chúng tôi?  Sự việc còn căng thẳng hơn lần trước, vì vụ này đụng chạm đến những con người cụ thể, một dòng họ lớn. Các cụ tuyên bố sẽ gọi con cháu các nơi về làm cho ra nhẽ. Tôi nhận điện thoại của Thước mà lo thay cho anh. Tôi phải vào cuộc bằng cách trực tiếp gặp các cụ, với tư cách là nhà văn, chủ tịch hội Văn học Nghệ thuật của tỉnh, xác nhận bằng văn bản rằng truyện ngắn của Thước là thể loại văn học hư cấu, những điều viết ra trong đó không có giá trị

Page 3: Tieu Thuyet Nong Thon

pháp lý, nhưng sự trùng hợp ngẫu nhiên ấy là đáng tiếc, Thước phải xin lỗi các cụ và rút kinh nghiệm. Qua mấy lần gặp gỡ,trao đổi kéo ra đến nửa năm,  rồi các cụ cũng nguôi ngoai bỏ qua cho Thước. Những " tai nạn" kiểu ấy vốn không  qua khỏi một các dễ dàng, mà thường để lại hậu quả xấu trong các mối quan hệ về sau. Nhưng với một người chân thành, dại khờ đáng yêu và hồn nhiên như Trần  Văn Thước thì không ai nỡ oán giận. Từ đấy,  Thước đã được bài học nhớ đời về những hệ luỵ của người cầm bút sống ở làng quê như anh. Một cái dầm sắt rơi, đè ngang lưng chàng trai Trần Văn Thước khi anh mới 25 tuổi. Các thầy thuốc bệnh viện 91 Cấp cứu, rồi chuyển  qua các bệnh viện  Việt Đức, bệnh viện Đường Sắt, rồi bệnh viện phục hồi chức năng Ba Vì. Vết thương quá nặng dập tuỷ sống khiến anh bị liệt nửa người từ đấy. Khi còn trẻ Thước đã làm thơ, viết truyện ngắn nhưng đó là niềm đam mê dấu kín, vì nghĩ nghiệp văn chương quá cao vời mình không thể với tới. Mấy năm nằm viện, Thước lại viết, và truyện ngắn " Xin kể chuyện này" được in trên tuần báo Văn Nghệ như mở ra cho anh một chân trời mới. Tháng 7 năm 1985 Thước được đưa về làng nghỉ chế độ thương tật vĩnh viễn sau 6 năm chữa trị qua nhiều bệnh viên. Thông thường, đây là giai đoạn khó khăn, khủng hoảng tâm lý khi con người biết chắc mình đã thành phế nhân bị tách khỏi môi trường xã hội. Khát vọng càng nhiều thì sự tuyệt vọng càng lớn. Nhưng Thước đã kiên cường vượt qua được trạng thái ấy. Có lẽ vì anh vốn hồn nhiên yêu đời,và đã nghĩ suy nghiền ngẫm nhiều qua những năm dài nằm viện. Về quê ít lâu Thước bắt đầu cầm bút. Tìm hiểu về sự nghiệp văn chương của Trần Văn Thước, tôi coi đây là dấu mốc quan trọng nhất của cuộc đời anh. Anh đã khởi đầu nghiệp văn với vốn liếng duy nhất là niềm đam mê văn học, tình yêu cuộc sống, yêu con người và lòng tin vào  bản thân . Tôi là người đầu tiên được đọc những truyện ngắn của Thước viết sau khi về làng. Đó là những trang bản thảo viết trên giấy có dòng kẻ của học sinh, nét chữ không đẹp, nhưng tròn trặn và rất có hồn. Qua nhiều lần thư từ và sau khi chọn in một truyện ngắn của Thước trên tạp chí Văn Nghệ địa phương, tôi đạp xe theo địa chỉ bưu điện về quê thăm Thước. Nhà Thước bên đường làng, có cây bàng râm mát trước cửa và con sông nhỏ chảy qua. Căn nhà tranh có cái cửa sổ  hình vuông trổ ra đường, nơi dường như lúc nào gương mặt Thước cũng lấp ló phía trong. Người làng  ghé qua mua ấm chè, bao thuốc, gói thuốc lào, gói bột canh hay quyển vở cho con trẻ. Họ thường đứng ngoài  cửa sổ, thò tay đưa tiền, nhận hàng, rồi kẻ trong người ngoài vui vẻ chuyện vãn với nhau về chuyện mùa màng, đồng áng, con cái, ma chay, cưới hỏi của làng. Hình ảnh đầu tiên của Thước còn in đậm trong tâm trí tôi là gương mặt hao gầy tươi cười của anh trong khung cửa sổ ấy, khi tôi dừng xe đạp bên gốc bàng hỏi thăm nhà anh. Gian nhà ngoài đơn sơ kê một cái giường, một  giá gỗ mộc bày hàng tạp hoá, là nơi Thước vừa bán hàng, vừa viết văn và nghỉ ngơi, vợ con anh ở gian trong. Trên kệ bán hàng có tập giấy thếp học sinh và cái bút bi, Thước đứng tựa cây nạng gỗ, vừa bán hàng vừa viết, lúc mệt thì

Page 4: Tieu Thuyet Nong Thon

với cái điếu cày bắn một điéu thuốc lào và ngả xuống giường nghỉ giải lao, có khách gọi lại nhỏm dậy. Vì thương tật anh không thể ngồi như mọi người, chỉ đứng tựa cây nạng hoặc nằm ngả người trên gối. Lần đầu gặp nhau, thấy Thước sống và làm việc trong hoàn cảnh ấy, tôi thật sự xúc động và ái ngại. Nhưng Thước thì rất vui vẻ và hồn nhiên, như thể anh hoàn toàn hài lòng với cuộc sống của mình. Cái bút bi và tập giấy viết dở luôn để trên  kệ gỗ, Thước có thể viết bất cứ  lúc nào rảnh rỗi. Tôi hơi ngạc nhiên vì sau khi làm quen, Thước rủ: " Anh em mình làm ván cờ đi anh". Hoá ra nhà Thước là cái câu lạc bộ cờ tướng của xóm. Hàng ngày  mấy ông mê cờ thường đến đây uống trà, hút thuốc lào và chơi cờ, cũng để đàm đạo  chuyện đời, chuyện làng xóm.  Đôi khi vắng khách, Thước cũng cầm quân, nhưng chủ yếu anh xem đánh cờ và nghe chuyện. Rất nhiều cảnh sống, chuyện làng quê và những tính cách, số phận nhân vật   trong các tác phẩm của Thước được rút ra từ những chuyện anh được nghe hàng ngày. Thước không có điều kiện học ở trường, cũng không  có nhiều sách để đọc về lý luận văn học, phương pháp sáng tác và tiếp cận với các trường phái , trào lưu văn học. Anh viết văn như lưu giữ những ký ức của làng quê với bao vui buồn, mong ước trong cái không gian văn hoá ngàn đời đang có những biến động dữ dội của thời toàn cầu hoá đã len lỏi vào tận từng ngõ xóm. Văn hoá Việt bắt nguồn từ văn hoá làng, làng quê là nơi lưu giỡ văn hoá vô cùng bền vững và có những quy luật riêng. Vì vậy hàng nghìn năm Bắc thuộc, Nước mất nhưng làng không mất, kẻ thù dùng nhiều thủ đoạn với dã tâm  đồng hoá nhưng văn hoá của cha ông vẫn bất tử trong văn hoá làng. Làng vẫn âm thầm nuôi giấu những anh hùng hào kiệt, những sĩ phu để rồi họ từ những chân tre mái rạ lớn lên ra đi đòi lại Nước. Hiên thực của làng với lối sống, phép ứng sử, dựng vợ gả chồng, sinh con đẻ cái, nuôi dậy con cái, thờ phụng tổ tiên diễn ra bình thường, tự nhiên như trời đất, nhưng ẩn chứa bao điều minh triết khôn ngoan, hài hoà với Thiên Địa và sâu thẳm nhân văn. Thước như cái cây hút nhựa sống từ chính cái minh triết ấy qua chuyện buồn vui của làng anh được nghe được thấy hàng ngày và anh đã viết nên những trang văn về nông thôn Việt Nam thời đổi mới như một thứ đặc sản của riêng anh. Những truyện như " Tháng ba thương mến", "Trạm xá làng", " Tráng sĩ gà", " Về một miền khắc khoải"... là những trang văn viết về nông thôn mới với tính cách, số phận người nông dân thời hiện đại tươi rói một hiện thực mới lạ. Trên văn đàn lúc đó và cả hiện nay, vẫn có người viết về nông thôn nhưng không khí làng quê và các nhân vật nông dân còn dáng dấp của nông dân, nông thôn của những năm 60, 70 của thế kỷ trước. Nông dân của Thước là nông dân mới, vừa làm ruộng, vừa buôn bán hoặc làm công nhân theo thời vụ. Làng quê của Thước có nhà hàng, quán caraoké, một làng quê đang mơ giấc mơ đô thị hoá nhưng vẫn có lễ hội đình làng, cúng bái đền miếu và thờ phụng tổ tiên, giữ lễ nghĩa gia tộc. Nhân vật của Thước thường là những số phận nhỏ nhoi như anh thợ cày, ông đun te, anh riu tép, chị thợ cấy, ông thầy cúng, người làm

Page 5: Tieu Thuyet Nong Thon

vàng mã. Họ sinh ra ở làng, thảo thơm chăm chỉ làm lụng, yêu đương, sinh con đẻ cái, ước mong chỉ là được sống yên vui, no đủ, con cái ăn học nên người. Chỉ thế thôi mà đằng sau mỗi số phận có biết bao điều chi phối, giằng xé với những ước mong bị vùi dập, những khát vọng bị tiêu tan,  những yêu thương và thù hận, những may mắn và tai ương luôn đan cài trong thế giới nhân vật của Trần Văn Thước. Làng quê bình lặng với những cánh đồng, dòng sông bến nước, nhưng ẩn chứa bên trong là  những cảnh đời không đơn giản được Trần Văn Thước chắt lọc nên những trang văn thấm đẫm tình yêu và lòng nhân ái. Đọc Trần Văn Thước, người ta cảm nhận được một vùng nông thôn đang biến động mãnh liệt do tác động của kinh tế hàng hoá, một thế hệ nông dân mới với lối sống mới, cách ứng xử mới, với những mâu thuẫn, va chạm lợi ích mới, nhưng tựu chung lại anh vẫn dựng lên một bức tranh về nông thôn thời hiện đại với nét đẹp được lưu giữ bằng văn hoá làng truyền thống của riêng anh.Từ khi về quê năm 1985 đến nay, vừa bán hàng vừa đứng tựa cây nạng gỗ viết văn, Trần Văn Thước đã xuất bản 10 tác phẩm, trong đó có 2 cuốn tiểu thuyết và 8 tập truyện ngắn. Tận mắt nhìn thấy Thước gầy gò đu mình trên cây nạng  gỗ viết từng nét chữ, mới hiểu được sự lao động khổ công của anh đến dường nào để sáng tạo ra từng ấy tác phẩm. Có thể nói anh đã vắt kiệt sức mình cho văn chương. Anh đã được nhiều giải thưởng trong các cuộc thi văn học. Cuối năm 2011, anh là một trong hơn chục nhà văn được bộ Nông nghiêp - phát triển nông thôn và hội Nhà văn Việt Nam tặng giải thưởng cho thành tựu xuất sắc viết về đề tài nông thôn mấy chục năm qua. Cống hiến của anh cho nền văn học đất nước đặc biệt đáng trân trọng. Anh là một trong số ít các nhà văn Việt Nam viết về nông thôn đang được bạn đọc yêu mến hiện nay.                                                                           Đại Lải, 10-4-2012

TÊN ĐỀ TÀI: TIỂU THUYẾT Lê Lựu THỜI KỲ ĐỔI MỚI

Information

MS: LVVH-VHVN024SỐ TRANG: 103NGÀNH: VĂN HỌCCHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAMTRƯỜNG: ĐHSP TPHCMNĂM: 2007

Information

CẤU TRÚC LUẬN VĂN

Page 6: Tieu Thuyet Nong Thon

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài 2. Lịch sử vấn đề3. Giới hạn phạm vi nghiên cứu 4. Phương pháp nghiên cứu. 4.1. Phương pháp lịch sử – xã hội 4.2. Phương pháp so sánh4.3. Phương pháp phân tích5. Những đóng góp của luận văn 6. Cấu trúc luận văn

Chương 1: Lê Lựu và nền tiểu thuyết Việt Nam đương đại

1.1. Tiểu thuyết Việt Nam trước thời kỳ đổi mới. 1.2. Tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới. 1.2.1. Cơ sở thực tiễn của công cuộc đổi mới văn học nghệ thuật. 1.2.2. Tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới. 1.3. Quan điểm nghệ thuật và sự nghiệp sáng tác văn học của Lê Lựu. 1.3.1. Quan điểm nghệ thuật. 1.3.2. Sự nghiệp sáng tác.

Chương 2: Sự đổi mới cảm hứng nghệ thuật của Lê Lựu trong bộ ba tác phẩm Thời xa vắng, Chuyện làng Cuội , Sóng ở đáy sông

2.1. Cảm hứng bi kịch thay thế cho chất sử thi và cảm hứng ngợi ca. 2.1.1. Khái niệm cảm hứng - Cảm hứng bi kịch. 2.1.2. Cảm hứng bi kịch trong văn học Việt Nam trước và sau thời kỳ đổi mới. 2.1.3. Cảm hứng bi kịch thay thế cho chất sử thi và cảm hứng ngợi ca - những biểu hiện cụ thể trong bộ ba tiểu thuyết Thời xa vắng - Chuyện làng Cuội - Sóng ở đáy sông. 2.1.3.1. Bi kịch do hoàn cảnh. 2.1.3.2. Bi kịch trong bản thân mỗi cá nhân. 2.2. Sự nhận thức lại hiện thực trong "Thời xa vắng; Chuyện làng Cuội; Sóng ở đáy sông". 2.2.1. Nhận thức quan niệm duy ý chí. 2.2.2. Nhận thức chân thực những khía cạnh khác nhau của hiện thực trong xã hội lúc bấy giờ. 2.2.2.1. Nhận thức chân thực những hạn chế của đường lối chính sách . 2.2.2.2. Nhận thức thực trạng của sự bao che, cho qua. 2.2.2.3. Nhận thức chân thực về lối sống thực dụng, ích kỷ, sự biến chất tha hóa của con người trong xã hội hiện đại. 2.2.2.4. Nhận thức hiện thực ở nông thôn.

Chương 3: Những nỗ lực hiện đại hoá thể loại tiểu thuyết của Lê Lựu

3.1. Kết cấu truyện. 3.1.1. Thủ pháp đồng hiện. 3.1.2. Hiện tượng phân rã cốt truyện. 3.1.3. Tình huống truyện. 3.1.4. Kết thúc truyện. 3.2. Giọng điệu trần thuật.

Page 7: Tieu Thuyet Nong Thon

3.2.1. Giọng điệu hài hước, trào tiếu. 3.2.2. Giọng triết lý, ngậm ngùi xót thương. 3.2.3. Giọng phê phán, lên án tố cáo.

KẾT LUẬN.

TÀI LIỆU THAM KHẢO.

PHỤ LỤC.

1. Tóm tắt tiểu thuyết Thời xa vắng 2. Tóm tắt tiểu thuyết Sóng ở đáy sông 3. Tóm tắt tiểu thuyết Chuyện làng Cuội.

Nguồn: http://www.kilobooks.com/threads/262973-TIỂU-THUYẾT-Lê-Lựu-THỜI-KỲ-ĐỔI-MỚI#ixzz21dT68wSE Thư Viện Điện Tử www.KILOBOOKS.com

1. Sự đa dạng về bút pháp nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới

Có thể nói, tiên đoán của M.Bakhtin về sức sống mãnh liệt của tiểu thuyết đã được chứng thực bằng sự phát triển mạnh mẽ của tiểu thuyết Việt Nam trong hai mươi năm qua (1986-2006). Sự lo ngại về “số phận của tiểu thuyết” đã không còn. Thay vào đó, tiểu thuyết thực sự đã trở thành nhân vật chính trên sân khấu văn học hiện đại. Với ưu thế của mình, một mặt, tiểu thuyết thâm nhập mạnh mẽ vào các thể loại, mặt khác, du nhập vào nó các thể loại khác để tạo nên cấu trúc nghệ thuật đa tầng. Một trong những thay đổi đáng kể nhất trong nghệ thuật tự sự tiểu thuyết Việt nam thời kỳ đổi mới là sự đa dạng và linh hoạt về bút pháp nghệ thuật.

[size=large]1. Bút pháp tả thực mới[/size]

Khái niệm tả thực trong văn học đã xuất hiện từ lâu. Thậm chí, có thể coi thuật ngữ mimezic trong Thi học của Aristote cũng gắn liền với ý thức tả thực của văn học. Tuy nhiên phải đến khi chủ nghĩa hiện thực ra đời, tả thực mới trở thành nguyên tắc nghệ thuật có ý nghĩa quan trọng. Trong quan niệm truyền thống, tả thực được hiểu như là sự thể hiện một cách trung thành hiện thực và hiện thực trong tác phẩm có cấu trúc đồng đẳng với hiện thực vốn có ngoài đời. Quan niệm này có thể nhìn thấy trong tuyên bố của Balzac: “Nhà văn là người thư ký trung thành của thời đại”. Stendhal cũng coi văn chương như là tấm gương phản ánh cuộc đời. Ở Việt Nam, bút pháp và tinh thần tả thực cũng được các nhà văn hiện thực đặc biệt chú ý. Vũ Trọng Phụng từng bày tỏ quan điểm nghệ thuật của mình: “Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết. Tôi và các nhà văn cùng chí hướng như tôi coi tiểu thuyết là sự thực ở đời” (Báo Tương lai số 9, ngày 25.3. 1937). Không thể phủ nhận những đóng góp to lớn của các nhà văn hiện thực khi họ phát huy tối đa sức mạnh bút pháp tả thực đặc sắc và trên thực tế, nhiều nhà văn đã để lại hàng loạt kiệt tác như Tấn trò đời (Balzac), Đỏ và đen (Stendhal), Hội chợ phù hoa (W.Thackeray), Số đỏ, Vỡ đê (Vũ Trọng Phụng)... Trên cơ sở tiếp thu những thành tựu của chủ nghĩa hiện thực, văn học Xô viết đưa ra nguyên tắc tả thực xã hội chủ nghĩa. Nguyên tắc tả thực xã hội chủ nghĩa (gắn “tả thực” với định ngữ “xã hội chủ nghĩa” = tả thực xã hội chủ nghĩa hoặc tả chân xã hội chủ nghĩa) cũng từng được Hải Triều nói đến trong cuộc tranh luận nghệ thuật năm 1936-1939, sau đó được đưa vào Đề cương về văn hóa Việt Nam 1943 và trên thực tế đã trở thành nguyên tắc cơ bản của văn học cách mạng giai đoạn 1945-1975. Tuy nhiên, bên cạnh nhiều tiểu thuyết có giá trị nghệ thuật cao, không ít tiểu

Page 8: Tieu Thuyet Nong Thon

thuyết thời kỳ này rơi vào công thức, khuôn sáo. Sau 1975, nhất là từ 1986 đến nay, khi văn học tự “cởi trói” để hướng tới sự đa dạng thì bút pháp tả thực mới phát huy tối đa tác dụng. Điều đó gắn liền với nhu cầu “nói thẳng, nói thật” trong quá trình tiến hành đổi mới tư duy. Nhu cầu nói thẳng nói thật trong văn học thời đổi mới cần được hiểu ít nhất trên ba phương diện: thứ nhất, không thi vị hóa đời sống mà nhìn cuộc sống trong tính phức tạp, đa chiều như nó vốn có; thứ hai, không còn những đề tài cấm kị, tất cả đều được hiện lên trong thanh thiên bạch nhật; thứ ba, nhà văn tự do nói lên chính kiến của cá nhân chứ không nhân danh tập thể, cộng đồng để trình bày quan điểm.

Về cơ bản, tả thực trong tiểu thuyết sau 1986 khác với tả thực theo quan niệm truyền thống. Các tiểu thuyết gia hiện đại không muốn dừng lại ở vai trò “thư ký” thời đại hoặc coi văn học là tấm gương thuần túy mà cố gắng soi chiếu hiện thực từ nhiều góc nhìn khác nhau. Nhà văn có thể sử dụng bút pháp tả thực bằng cái nhìn khách quan, có thể tả thực theo cái nhìn giễu nhại... Điều quan trọng là bên cạnh thông tin về sự thật, người đọc phải tìm thấy trong thế giới nghệ thuật của nhà văn lượng thông tin thẩm mĩ phong phú. Đó là chưa nói đến chuyện, sự thật trong văn học tuy thống nhất với sự thật ngoài đời nhưng hai thứ đó không phải là một. Sự đồng nhất giữa hai loại sự thật này, dù chỉ là vô tình, cũng làm phương hại đến sự lung linh, đa nghĩa của nghệ thuật. Bởi thế, chỉ một khi hai yếu tố thông tin sự thật và thông tin thẩm mĩ kết hợp hài hòa thì tác phẩm mới có cơ tồn tại lâu dài. Hàng loạt tiểu thuyết của Lê Lựu (Thời xa vắng, Chuyện làng Cuội), Nguyễn Khắc Trường (Mảnh đất lắm người nhiều ma), Chu Lai (Vòng tròn bội bạc), Dương Hướng (Bến không chồng) với bút pháp tả thực mới đã đem lại cho công chúng nhiều nhận thức mới mẻ về hiện thực.

Khi nói đến bút pháp tả thực mới, cần thấy rằng đây là thủ pháp quan trọng của khuynh hướng tiểu thuyết “nhận thức lại” lịch sử. Khuynh hướng này có phần gần gũi với cảm hứng phản tư trong tiểu thuyết Trung Quốc thời kỳ cải cách với Một nửa đàn ông là đàn bà của Trương Hiền Lượng, Nôn nóng của Giả Bình Ao, Báu vật của đời của Mạc Ngôn, Trường hận ca của Vương An Ức... Các nhà văn Trung Quốc đã nhìn nhận lại hàng loạt vấn đề đau lòng, những bi kịch đầy nước mắt trong thời kỳ cách mạng văn hóa. Tác phẩm của họ được người đọc đón chào nồng nhiệt bởi từng trang viết thấm đầy tinh thần phản tư. Thậm chí, trong quá trình nhận thức lại cách mạng văn hóa, các nhà tiểu thuyết Trung Quốc cho rằng đó là cuộc chấn thương tinh thần lớn nhất thế kỷ XX. Theo đó, dòng “văn học vết thương” ra đời và để lại ấn tượng sâu sắc đối với độc giả. Ở Việt Nam, cảm hứng nhận thức lại quá khứ cũng phần nào thể hiện tinh thần nhận chân lại các giá trị đời sống bằng cái nhìn mới mẻ, thể hiện những suy tư của nhà văn về số phần con người trong sự va đập của các biến cố đời sống và các sự kiện lịch sử. Trong Thượng đế thì cười, Nguyễn Khải đã nhìn lại những năm tháng đã qua của nhân vật bằng cái nhìn mang sắc thái giễu nhại. Những tác phẩm viết về cải cách ruộng đất (Dòng sông Mía, Ba người khác...) cũng tái hiện lại nhiều cảnh oái oăm do cái nhìn tả khuynh, ấu trĩ, giáo điều mà một thời chúng ta đã mắc phải. Thậm chí không ít người coi sự giáo điều và tả khuynh mới thực sự là cách mạng! Tình cảnh của nông thôn và số phận của người nông dân cũng được miêu tả một cách chân thực qua Chuyện làng Cuội, Mảnh đất lắm người nhiều ma... Trong những tác phẩm này, cái các ác, xấu có mặt khắp nơi, thả sức hoành hoành và nhiều người hành động như những kẻ cuồng tín. Sự ấu trĩ trong nhận thức, sự hạn hẹp về tầm nhìn của một số cán bộ có chức có quyền đã khiến biết bao gia đình tan nát, bao số phận dang dở. Nhìn chung, các nhà tiểu thuyết đã dựng lại bi kịch của một thời, nhưng thông qua những tấn bi kịch nhiều khi cười ra nước mắt ấy chúng ta sẽ từ giã quá khứ một cách dứt khoát hơn để hướng tới một tương lai tốt đẹp giàu tính nhân bản hơn.

Thực ra, trong những năm tiền đổi mới, bút pháp tả thực chưa được xử lý một cách nhuần nhuyễn và điều đó đã khiến cho tiểu thuyết vẫn còn giàu chất ký sự báo chí mà Đứng trước biển, Cù lao Tràm (Nguyễn Mạnh Tuấn) là một điển hình. Nhưng đến

Page 9: Tieu Thuyet Nong Thon

giai đoạn sau, bút pháp tả thực được kết hợp với nhiều thủ pháp nghệ thuật khác và hệ quả, tác phẩm trở nên hấp dẫn hơn. Điều đó có thể nhìn thấy qua sáng tác của Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, Nguyễn Khắc Trường, Chu Lai, Tô Hoài...

[size=large]2. Bút pháp phúng dụ, huyền thoại[/size]

Đây là bút pháp nghệ thuật được rất nhiều nhà tiểu thuyết thời kỳ đổi mới sử dụng. Sự có mặt của bút pháp huyền thoại vừa cho phép nhà văn nhìn sâu hơn vào thế giới, vừa tạo ra sự lạ hóa để thu hút người đọc. Những Thiên sứ (Phạm Thị Hoài), Thiên thần sám hối (Tạ Duy Anh), Cõi người rung chuông tận thế (Hồ Anh Thái), Người sông Mê (Châu Diên), Giàn thiêu (Võ Thị Hảo)... đã đem đến cho người đọc nhiều cảm xúc mới mẻ về một hiện thực nghiệt ngã và phức tạp qua những huyền thoại giàu chất tưởng tượng. Các nhà văn đã tìm đến các môtip huyền thoại như một phương tiện nghệ thuật hữu hiệu để truyền đến người đọc những cách tiếp cận hiện thực một cách sinh động. Theo đó, người đọc không nhìn về thế giới theo chiều tuyến tính mà nhận ra sự đa dạng chính là bản chất cuộc sống. Trong nhiều tiểu thuyết, bút pháp huyền thoại có khả năng tạo nên những hình tượng mang tính ẩn dụ cao, và đến lượt mình, các hình tượng ẩn dụ ấy tồn hiện như một ký hiệu nghệ thuật đa nghĩa giàu chất tượng trưng. Tất nhiên, khi đi vào tiểu thuyết, các huyền thoại không còn là những huyền thoại mang nghĩa nguyên thủy mà đã được cải biến để mang chứa những hàm lượng nghĩa mới. Chẳng hạn ánh trăng trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương không còn là ánh trăng thơ mộng, trữ tình mà là thứ ánh sáng ma mị, nhiều khi quái lạ. Trong Thiên sứ, Phạm Thị Hoài luôn pha trộn các huyền thoại phương Đông và phương Tây, huyền thoại cũ và huyền thoại mới nhằm tạo ra sự trùng phức hình tượng. Ở Thiên thần sám hối Tạ Duy Anh lại tạo dựng tình huống độc đáo: đứa bé suy ngẫm chuyện đời khi còn nằm trọng bụng mẹ và toàn bộ câu chuyện diễn ra dưới cái nhìn đó. Rõ ràng, việc sử dụng bút pháp huyền thoại đã làm cho người đọc hứng thú vì họ phát hiện sự toàn vẹn và sinh động của cuộc sống thông qua tính sinh động cuả nghệ thuật. Với tư cách là một phương thức nghệ thuật “biến hiện thực thành hoang đường mà không đánh mất tính chân thật”, việc đưa cái huyền ảo vào thế giới thực tại đã lấy cái phi lý để nhận thức cái hữu lý, lấy lôgic của nghệ thuật và trí tưởng tượng để nhìn thấy logic cuộc sống một cách hiệu quả.

[size=large]3. Bút pháp trào lộng, giễu nhại[/size]

Sự xuất hiện của bút pháp trào lộng ngày càng nhiều trong tiểu thuyết đương đại, theo chúng tôi, xuất phát từ ba căn nguyên cơ bản: thứ nhất, có ý nghĩa cân bằng sinh thái văn học sau một thời gian dài văn học ta quá nghiêm trang; thứ hai, là một nhu cầu giải tỏa áp lực của đời sống hiện đại; thứ ba, quan trọng hơn, thể hiện tinh thần dân chủ hóa trong văn học. Không nên hiểu đơn giản trào lộng và giễu nhại chỉ nhằm tới một mục đích giải thiêng mà cần hiểu sâu hơn, đó là hình thức tiếp cận các giá trị đời sống một cách dân chủ, đa nguyên, phi quy phạm. Có thể nói Thời xa vắng (Lê Lựu), Thiên sứ (Phạm Thị Hoài), Cõi người rung chuông tận thế và Mười lẻ một đêm (Hồ Anh Thái), Thượng đế thì cười (Nguyễn Khải), T. mất tích (Thuận)... là những tác phẩm sử dụng bút pháp trào lộng, giễu nhại thành công. Trong Thời xa vắng người trần thuật là người đã nếm trải nhiều cay đắng, đi qua nhiều nỗi bi hài và anh ta kể lại hàng loạt câu chuyện về một “thời xa vắng” nhưng chưa hề xa. Cũng phải nói thêm rằng, bản thân cách nói “thời xa vắng” đã hàm chứa trong đó tư tưởng khá sâu sắc của Lê Lựu.

Trong số các nhà văn đương đại, Nguyễn Khải được coi là nhà văn nhạy cảm. Ngay từ sau 1975, Nguyễn Khải đã có Gặp gỡ cuối năm, Cha và con và... Ông sớm nhận ra phải nhanh chóng từ giã thời lãng mạn, đơn giản, dễ dãi để viết những tác phẩm mang quan điểm cá nhân. Tuy nhiên, khi Thượng đế thì cười xuất hiện, người đọc vẫn bất ngờ khi nhận thấy một Nguyễn Khải mới mẻ với chất giọng giễu nhại sắc sảo.

Page 10: Tieu Thuyet Nong Thon

Màu sắc “tự trào” hiện ra qua cách xưng hô “lão Khải”, “anh Khải”, “thằng Khải”, “hắn” cùng với những chi tiết giàu chất hài hước, hóm hỉnh. Cái cười của Nguyễn khải vừa bao dung vừa nâng tầm nhận thức về một thời giản đơn và ấu trĩ, đầy ngộ nhận. Những điều vụn vặt lại tưởng lớn lao, những thứ đơn giản lại cố phức tạp và cho rằng thế mới là quan trọng! Người sông Mê của Châu Diên cũng sử dụng thủ pháp nhại: nhại nhịp điệu sống quẩn quanh (qua cách tổ chức ngữ điệu, nhịp điệu; nhại các loại giọng, giọng quyền uy bên cạnh giọng dân dã, giọng nghiêm túc và giọng bông phèng...). Hồ Anh Thái cũng là nhà văn có ý thức sử dụng bút pháp giễu nhại thành công và phong cách trần thuật này ám cả vào giọng điệu của nhà văn...

[size=large]4. Bút pháp tượng trưng[/size]

Bút pháp tượng trưng được các nhà văn sử nhằm làm gia tăng chất lượng, ý nghĩa của văn chương đồng thời tăng thêm sức mê hoặc của tác phẩm. Trong tiểu thuyết, màu sắc tượng trưng thường hiện ra qua những chi tiết khác lạ so với logic thông thường. Chẳng hạn nhân vật Mai Trừng trong Cõi người rung chuông tận thế của Hồ Anh Thái. Mai Trừng hiện ra như một thiên sứ có sức mạnh siêu nhiên, trừng phạt cái ác. Nhưng lạ là ở chỗ, kẻ ác nhìn thấy cô đã sợ, nhưng những người yêu thương Mai Trừng cũng không thể gần cô. Nhân vật này đã góp phần đắc lực trong việc bộc lộ chủ đề tác phẩm: đề cao sức mạnh của cái thiện trong cuộc chiến chống lại cái ác và chủ trương hóa giải hận thù. Trong Giàn thiêu của Võ Thị Hảo, hình ảnh Từ Vinh dù đã chết vẫn đứng trên sông chỉ tay vào nhà Diên Thành Hầu cũng là chi tiết giàu chất tượng trưng. Bút pháp tượng trưng không chỉ thể hiện qua các chi tiết giàu tính nghệ thuật mà nó còn thể hiện trong việc tổ chức cấu trúc tác phẩm và xây dựng hình tượng. Để thể hiện cái nhìn mới về lịch sử, Võ Thị Hảo đã để cho các nhân vật trải qua nhiều kiếp, miêu tả tiếng vọng của những oan hồn bị giết, thậm chí xoáy sâu vào những chi tiết mà các sử gia đã bỏ qua hoặc không thật chú ý (trường hợp Ỷ Lan giết cung nữ). Nguyễn Xuân Khánh cũng xây dựng hình tượng Sử Văn Hoa như một nhân vật có quan điểm, có tiếng nói riêng không lệ thuộc vào quyền uy, không khuất phục sức mạnh của những kẻ quyền thế. Rõ ràng, Nguyễn Xuân Khánh và Võ Thị Hảo có ý thức lý giải lịch sử theo cách riêng và quan điểm của nhà văn không nhất thiết lúc nào cũng trùng khít với lịch sử đã được ghi chép trong các bộ chính sử.

Bút pháp tượng trưng đặc biệt hiệu quả vì nó có khả năng tạo nên tính đa nghĩa của tác phẩm. Vì có khả năng tái tạo các siêu mẫu, cấp cho các siêu mẫu những bình diện nghĩa mới nên bút pháp tượng trưng làm cho hình tượng trở nên “nhòe” nghĩa. Người đọc phải có năng lực giải mã các hình tượng đẫm chất tượng trưng thì mới hiểu được chiều sâu tư tưởng nghệ thuật của nhà văn. Hiện tượng này không chỉ diễn ra với tiểu thuyết mà còn diễn ra trong truyện ngắn. Các truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp như Kiếm sắc, Vàng lửa, Phẩm tiết, Con gái thủy thần... đều mê hoặc người đọc bởi tác giả sử dụng bút pháp tượng trưng hết sức hiệu quả. Ngoài việc gia tăng chiều sâu và độ lấp lánh của hình tượng, bút pháp tượng trưng cũng có khả tăng cường sức mạnh ám chỉ trong tiểu thuyết, góp phần mở rộng biên độ của các lớp nghĩa trong cấu trúc tác phẩm.

Tóm lại, sự đa dạng về bút pháp nghệ thuật đã giúp cho tiểu thuyết vượt qua lối phản ánh hiện thực thông thường để tái hiện cuộc sống trong tính chân thực, sinh động và toàn vẹn. Đó cũng chính là yếu tố hết sức quan trọng tạo nên khoái cảm văn bản cho người đọc khi họ tiếp xúc với thể loại này.

Theo vanhoanghethuat.org.vn

- Hội nghị nhà văn các tỉnh phía Bắc vừa diễn ra tại thành phố Hải Phòng vào 10/10. Ngoài

báo cáo đề dẫn của nhà văn Đức Hậu "Văn học xứ Bắc trong thời kỳ đổi mới" còn có tham

Page 11: Tieu Thuyet Nong Thon

luận của 15 nhà văn như: Đào Vũ, Trần Nhuận Minh, Nguyễn Trung Nhàn, Hoàng Minh

Tường, Bùi Ngọc Tấn, Mã Thế Vinh, Lê Hoài Nam, Trần Quốc Tiến, Ngọc Bái, Nguyễn Phúc

Lai... Họ vốn là những nhà văn có nhiều duyên nợ với nông thôn và người nông dân hôm

qua và hôm nay.

Với một địa bàn dân cư của 22 tỉnh, thành phố phía Bắc (trừ khu vực Hà Nội), chỉ có 85 nhà

văn quả là một con số ít ỏi so với hàng chục triệu dân của một vùng trọng điểm về chính trị, kinh

tế, quân sự, văn hoá xã hội bao gồm miền núi phía Bắc và vùng châu thổ sông Hồng.

Trong không khí cởi mở, dân chủ, văn hóa, nhiều nhà văn đã phát biểu những suy nghĩ rất tâm

huyết, chân thành và sâu sắc về sự biến đổi của đời sống nông thôn hôm nay trong sự tác động

của cơ chế thị trường, trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn. Nhiều nhà văn

đã nêu ra câu hỏi: Văn học viết về nông thôn và hình ảnh người nông dân Việt Nam sẽ ra sao

trước trách nhiệm của người cầm bút với đời sống văn học, với Đảng và nhân dân, đất nước và

dân tộc? Nhiều người đã khẳng định đất nước chúng ta đã đạt được những thành quả to lớn về

chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng, nhưng cũng đang đứng trước những thách

thức khó khăn, đầy cạm bẫy trong thời kỳ đổi mới. Đảng và Nhà nước đã có sự quan tâm, ưu ái

đối với văn học nghệ thuật... Cuộc sống của xã hội ta khi bước vào thế kỷ XXI đã có nhiều thay

đổi căn bản, đặc biệt là bộ mặt của đời sống nông thôn, cuộc sống của người nông dân song "đề

tài sản xuất và chiến đấu vẫn có sức lôi cuốn bạn đọc, vẫn kích thích các nhà văn sáng tạo" (Đào

Vũ); "sáng tác văn học về nông thôn và nhân dân vẫn là một đề tài lớn" (Trần Nhuận Minh). Đây

là một sự thách thức với mỗi nhà văn khi hướng về nông thôn, viết về người nông dân sau luỹ tre

làng.

Nhiều nhà văn đã khẳng định: Hiện nay rất ít gia đình nông dân còn phải lo tới cái đói, nhưng cái

nghèo thì vẫn còn đó. Dấu sau những ánh mắt đôn hậu, nhân nghĩa, đầy tình làng nghĩa xóm

của những anh Pha, chị Dậu, Chí Phèo... đã được làm chủ cuộc đời mình, niềm vui có nhiều

nhưng nỗi ưu tư, trăn trở, dằn vặt vẫn còn trĩu nặng trong mỗi con người, trong từng gia đình,

thôn xóm. Mỗi lo về đất đai, về tệ cửa quyền, tham nhũng, các tệ nạn xã hội, về quyền tự do dân

chủ của người dân mà Đảng và Bác Hồ đã mang lại cho người nông dân. Ở nơi này nơi khác

vẫn đang là một trở ngại. Đó là mối lo chuyện học hành của con cái, ốm đau tật bệnh, chuyện

tang ma cưới hỏi, đóng góp xã hội... Trong khi nguồn sống chính của người nông dân, có nhiều

nơi chỉ trong vào một, hai sào ruộng khoán, nhiều nơi nghề phụ không có. Hàng vạn người nông

dân không có việc làm trong những tháng nông nhàn.

Nhà văn Lê Hoài Nam đã đưa ra một ví dụ thú vị: trong lúc người nông dân phải chắt chiu từng

đồng lo cho con ăn học, với họ chỉ có học, thoát ly ra ngoài thành phố mới trốn khỏi kiếp nghèo,

thì ngày nay ở nông thôn lại xuất hiện một tầng lớp những người có chức có quyền, có tiền, các

chủ doanh nghiệp trẻ... trở về nông thôn mua đất, mở dịch vụ, các cơ sở sản xuất đầu tư kinh tế

nông thôn.

Những giá trị văn hoá truyền thống lâu đời của vùng châu thổ sông Hồng nay cũng đang đứng

trước những thách thức lớn. Bên cạnh việc gìn giữ, tôn tạo, xuất hiện sự xói mòn những giá trị

Page 12: Tieu Thuyet Nong Thon

đạo đức cao đẹp của người nông dân Việt Nam. Khi đọc một số tác phẩm văn học viết về nông

thôn hiện nay, có nhà văn nhận xét: "Nhà văn chúng ta có lỗi trong việc mô tả nông thôn và nhân

vật nông dân, họ méo mó quá và không đúng với bản chất của đời sống hiện thực".

Trong hội thảo, các cuộc trao đổi quanh bàn trà nhiều nhà văn có chung một ý nghĩ: nông thôn

Việt Nam hôm nay đang có những chuyển động dữ dội, buồn vui lẫn lộn; và trong quá trình vận

động ấy hình như đang vỡ ra, đang quậy cựa... và sẽ đến lúc nảy sinh ra một cái gì đó rất mới.

Nhiều người nhận thấy trong các sáng tác văn học còn rất thiếu những hình tượng về người

nông dân, về sự đổi mới ở nông thôn cũng như thiếu đi những dự báo xã hội cần thiết.

Khi bàn về "văn hoá làng", nhà văn Dương Duy Ngữ nghĩ rằng: "Làng Việt Nam cũng vẫn như

xưa và cũng rất khác xưa. Nhà văn cần hiểu và viết về văn hoá làng, cần phải phát hiện cho

được cái hồn cốt, cái tinh tuý của nó". Nhà thơ Ngũ Liên Tùng kêu gọi: cần phải bảo tồn và bảo

vệ các làng cổ Việt Nam, trong sự xâm lăng của trào lưu "bê tông hoá"; cần phải có cái nhìn,cách

nghĩ về quy hoạch tổng thể nông thôn ở nước ta không thể để tình trạng bất cập, lộn xộn như

hiện nay.

Nông thôn miền núi nước ta có truyền thống lịch sử văn hoá, là chỗ dựa vững chắc của cách

mạng. Trong công cuộc đổi mới, nông thôn miền núi đã có nhiều thay đổi đáng mừng, song "vẫn

còn nhiều vùng khuất nấp, đội ngũ cán bộ thiếu hụt, trình độ dân trí thấp, lo nhất là sự chênh lệch

giữa giàu nghèo, sự phân hoá trong nội bộ người nông dân đang diễn ra quyết liệt", "nông thôn

miền núi còn nhiều vùng bỏ hoang trong văn học" những suy nghĩ đầy trách nhiệm trên đây là

của nhà thơ Ngọc Bái. Anh đọc câu ca dao của người Mông ở Trạm Tấu: "Nước chảy được thì

nước cứ chảy, núi không chảy được thì núi ở lại".

Khi bàn về trách nhiệm của các nhà văn với mảng đề tài nông thôn, có người cho rằng: "Hình

như tài năng chúng ta có, nhưng lại thiếu đi cái động lực để sáng tạo trong mỗi nhà văn"

(Nguyễn Phúc Lai). "Viết về nông dân mà thoát li nông thôn, không hiểu người nông dân... với

cách nhìn ấy văn học chỉ có thể diễu cợt châm biếm hài hước nông dân, không thấy được chiều

sâu những biến đổi to lớn trong lòng nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi mới" (Nguyễn Hữu Nhàn).

Và muốn có những tác phẩm hay viết về nông thôn, về người nông dân, nhà văn phải "tắm mình

trong đời sống của chính họ, nhà văn phải đổi mới chính mình, đổi mới cách nghĩ cách viết"; đó

còn là nhu cầu "được nhìn khác đi, được viết khác đi; đó còn là sự thi đua, ganh đua làm việc

giữa các nhà văn, trong một bầu không khí thân ái, tự do, dân chủ của đời sống văn học" (Hoàng

Minh Tường, Bùi Ngọc Tấn).

Văn xuôi của chúng ta hôm nay đang thiếu và rất cần những cuốn tiểu thuyết mới viết về nông

thôn và tạo dựng lên hình ảnh người nông dân mới một cách chân thực và sinh động. Người

nông dân làm chủ cuộc đời mình, tự khẳng định mình trên chính mảnh ruộng và làng quê nơi đã

sinh ra họ, trong sự nghiệp đổi mới do Đảng ta lãnh đạo. Nhiều nhà văn đã cảm động và tán

đồng với suy nghĩ rất chân thành của nhà văn Bùi Ngọc Tấn: "... Chúng ta sẽ viết được những

cuốn tiểu thuyết như chúng ta hằng mong ước, cũng như tôi luôn tin mỗi giọt máu của chúng ta

đều cháy lên lòng yêu nhân dân, yêu đất nước; một nhân dân, một đất nước đã đổ máu, đổ mồ

Page 13: Tieu Thuyet Nong Thon

hôi, đang vượt qua mọi khó khăn để xây dựng cuộc sống mới và đang chờ đón những tác phẩm

của chúng ta".

Các nhà văn vẫn còn đang mắc nợ với đất nước và nhân dân mình bằng những tác phẩm văn

học chân thực, lay động lòng người!

Đỗ Kim Cuông

Việt Báo (Theo_VietNamNet)

Minh triết của làng Cập nhật: Thứ năm, 14/6/2012 | 9:57:11 AM

Trần Văn Thước sinh ngày 15 - 4 - 1954 tại xã Vũ Lăng (Tiền Hải) là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 1999. Từng là thợ nguội Nhà máy toa xe Hữu Nghị, bị tai nạn lao động liệt hai chân từ năm 1979. Đã xuất bản 8 tập truyện ngắn và 2 tiểu thuyết về đề tài nông thôn, nông dân.

Nghề sông nước. Ảnh: Ngọc Linh

Anh đã được nhiều giải thưởng trong các cuộc thi văn học. Cuối năm 2011, anh là một trong hơn chục nhà văn được Bộ Nông nghiêp - Phát triển nông thôn và Hội Nhà văn Việt Nam tặng giải thưởng cho thành tựu xuất sắc viết về đề tài nông thôn mấy chục năm qua. Cống hiến của anh cho nền văn học đất nước đặc biệt đáng trân trọng. Anh là một trong số ít các nhà văn Việt Nam viết về nông thôn đang được bạn đọc yêu mến hiện nay.

Cứ nghĩ cái anh nhà văn mấy chục năm không ra khỏi làng, ngày ngày đứng tựa vào cây nạng gỗ  vừa viết văn vừa giúp vợ bán hàng tạp hóa, tính nết lại hiền hòa, thơm thảo như củ khoai hạt lúa, được dân làng và bạn bè xa gần thương mến  thì thanh thản và yên ấm lắm. Ấy vậy mà cũng mấy phen lao đao vì cái vạ văn chương.

Page 14: Tieu Thuyet Nong Thon

Lần thứ nhất là năm 1988, khi đó Trần Văn Thước mới về quê nghỉ dưỡng thương tật được 3 năm. Bút ký “Xin hãy nghe” đăng 2 kỳ báo Văn nghệ viết về tệ nạn cường hào mới ở nông thôn của Thước gây chú ý và cảm tình của bạn đọc cả nước, nhưng lại làm một số cán bộ địa phương bất bình. Họ kết tội Thước lợi dụng đổi mới bôi nhọ cán bộ.  Một buổi sáng, người ta tổ chức  cuộc  “tiếp thu báo chí “ tại hội trường làng, có đông đủ cán bộ, đảng viên tham dự. Trên nóc hội trường đặt bốn loa nén công suất lớn chĩa ra bốn hướng truyền đi những ý kiến lên án anh nhà văn  ăn cơm của làng mà dám “vạch áo cho người xem lưng”. Có người còn đòi truy tố. Dân làng đứng chật xung quanh hội trường và dọc đường làng. Tôi được Thước báo tin  từ chiều hôm trước, nên sáng  đó cũng có mặt ở làng, chứng kiến một sự kiện khá điển hình của nông thôn thời kỳ đầu đổi mới. Không khí làng xóm  căng như dây đàn,  người ngoài cuộc cũng thấy hãi, huống hồ một người mới cầm bút  như Thước. Khoảng nửa buổi sáng thì cuộc họp bỗng đổi chiều. Một số cán bộ lão thành lên tiếng bảo vệ Thước, lên án những sai trái được nêu trong bài bút ký. Nhiều dân làng ùa vào cuộc họp cướp diễn đàn  ủng hộ tác giả. Loa truyền thanh tắt. Cuộc họp giải tán không có kết luận.  Cũng thời điểm ấy, Phùng Gia Lộc ở Thanh Hóa viết bút ký “Cái đêm hôm ấy đêm gì” đã phải trốn ra Hà Nội tá túc ở nhà bạn bè.  Bài bút ký gây sóng gió ấy sau được báo Văn nghệ trao giải nhì, là nguồn động viên không nhỏ với Thước.

Mười năm sau, một buổi sáng, có  một đoàn các cụ râu dài tóc bạc đến nhà, đặt tờ báo lên bàn và trải tấm gia phả bằng cái chiếu đôi ra trước mặt, nói với Thước: “Dòng họ chúng tôi sinh ra Công chúa mà anh viết thế này chẳng hóa ra họ chúng tôi loạn luân à?”. Đó là truyện ngắn “Họ Chu Đức làng Trình” của Thước mới in. Khổ nỗi tình cờ  làng Trình Phố xã bên cũng có họ Chu rất danh giá, thời nào cũng  nhiều người đỗ đạt và làm quan, mà các cụ là những bậc trưởng lão của dòng họ ấy. Thước hoảng quá, vội phân trần với các cụ rằng đây là truyện ngắn hư cấu chứ không phải bút ký. Nhưng các cụ không chịu, vì tại sao anh lại viết đúng tên làng, tên họ chúng tôi?  Sự việc còn căng thẳng hơn lần trước, vì vụ này đụng chạm đến những con người cụ thể, một dòng họ lớn. Các cụ tuyên bố sẽ gọi con cháu các nơi về làm cho ra nhẽ. Tôi nhận điện thoại của Thước mà lo thay cho anh. Tôi phải vào cuộc bằng cách trực tiếp gặp các cụ, với tư cách là nhà văn, Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật của tỉnh, xác nhận bằng văn bản rằng truyện ngắn của Thước là thể loại văn học hư cấu, những điều viết ra trong đó không có giá trị pháp lý, nhưng sự trùng hợp ngẫu nhiên ấy là đáng tiếc, Thước phải xin lỗi các cụ và rút kinh nghiệm. Qua mấy lần gặp gỡ, trao đổi kéo ra đến nửa năm,  rồi các cụ cũng nguôi ngoai bỏ qua cho Thước. Những “tai nạn” kiểu ấy vốn không  qua khỏi một cách dễ dàng, mà thường để lại hậu quả xấu trong các mối quan hệ về sau. Nhưng với một người chân thành, dại khờ đáng yêu và hồn nhiên như Trần  Văn Thước thì không ai nỡ oán giận. Từ đấy,  Thước đã được bài học nhớ đời về những hệ lụy của người cầm bút sống ở làng quê như anh.

Một cái dầm sắt rơi, đè ngang lưng chàng trai Trần Văn Thước khi anh mới 25 tuổi. Các thầy thuốc Bệnh viện 91 Cấp cứu, rồi chuyển  qua các bệnh viện  Việt Đức, bệnh viện Đường Sắt, rồi bệnh viện phục hồi chức năng Ba Vì. Vết thương quá nặng dập tủy sống khiến anh bị liệt nửa người từ đấy. Khi còn trẻ Thước đã làm thơ, viết truyện ngắn nhưng đó là niềm đam mê dấu kín, vì nghĩ nghiệp văn chương quá cao với mình không thể với tới. Mấy năm nằm viện, Thước lại viết, và truyện ngắn “Xin kể chuyện này” được in trên

Page 15: Tieu Thuyet Nong Thon

tuần báo Văn Nghệ như mở ra cho anh một chân trời mới. Tháng 7 năm 1985, Thước được đưa về làng nghỉ chế độ thương tật vĩnh viễn sau 6 năm chữa trị qua nhiều bệnh viện. Thông thường, đây là giai đoạn khó khăn, khủng hoảng tâm lý khi con người biết chắc mình đã thành phế nhân bị tách khỏi môi trường xã hội. Khát vọng càng nhiều thì sự tuyệt vọng càng lớn. Nhưng Thước đã kiên cường vượt qua được trạng thái ấy. Có lẽ vì anh vốn hồn nhiên yêu đời, và đã nghĩ suy nghiền ngẫm nhiều qua những năm dài nằm viện.

Về quê ít lâu Thước bắt đầu cầm bút. Tìm hiểu về sự nghiệp văn chương của Trần Văn Thước, tôi coi đây là dấu mốc quan trọng nhất của cuộc đời anh. Anh đã khởi đầu nghiệp văn với vốn liếng duy nhất là niềm đam mê văn học, tình yêu cuộc sống, yêu con người và lòng tin vào  bản thân. Tôi là người đầu tiên được đọc những truyện ngắn của Thước viết sau khi về làng. Đó là những trang bản thảo viết trên giấy có dòng kẻ của học sinh, nét chữ không đẹp, nhưng tròn trặn và rất có hồn. Qua nhiều lần thư từ và sau khi chọn in một truyện ngắn của Thước trên tạp chí Văn Nghệ địa phương, tôi đạp xe theo địa chỉ bưu điện về quê thăm Thước. Nhà Thước bên đường làng, có cây bàng râm mát trước cửa và con sông nhỏ chảy qua. Căn nhà tranh có cái cửa sổ  hình vuông trổ ra đường, nơi dường như lúc nào gương mặt Thước cũng lấp ló phía trong. Người làng  ghé qua mua ấm chè, bao thuốc, gói thuốc lào, gói bột canh hay quyển vở cho con trẻ. Họ thường đứng ngoài  cửa sổ, thò tay đưa tiền, nhận hàng, rồi kẻ trong người ngoài vui vẻ chuyện vãn với nhau về chuyện mùa màng, đồng áng, con cái, ma chay, cưới hỏi của làng. Hình ảnh đầu tiên của Thước còn in đậm trong tâm trí tôi là gương mặt hao gầy tươi cười của anh trong khung cửa sổ ấy, khi tôi dừng xe đạp bên gốc bàng hỏi thăm nhà anh. Gian nhà ngoài đơn sơ kê một cái giường, một  giá gỗ mộc bày hàng tạp hóa, là nơi Thước vừa bán hàng, vừa viết văn và nghỉ ngơi, vợ con anh ở gian trong. Trên kệ bán hàng có tập giấy thếp học sinh và cái bút bi, Thước đứng tựa cây nạng gỗ, vừa bán hàng vừa viết, lúc mệt thì với cái điếu cày bắn một điếu thuốc lào và ngả xuống giường nghỉ giải lao, có khách gọi lại nhỏm dậy.

Vì thương tật anh không thể ngồi như mọi người, chỉ đứng tựa cây nạng hoặc nằm ngả người trên gối. Lần đầu gặp nhau, thấy Thước sống và làm việc trong hoàn cảnh ấy, tôi thật sự xúc động và ái ngại. Nhưng Thước thì rất vui vẻ và hồn nhiên, như thể anh hoàn toàn hài lòng với cuộc sống của mình. Cái bút bi và tập giấy viết dở luôn để trên  kệ gỗ, Thước có thể viết bất cứ  lúc nào rảnh rỗi. Tôi hơi ngạc nhiên vì sau khi làm quen, Thước rủ: “Anh em mình làm ván cờ đi anh”. Hóa ra nhà Thước là cái câu lạc bộ cờ tướng của xóm. Hàng ngày  mấy ông mê cờ thường đến đây uống trà, hút thuốc lào và chơi cờ, cũng để đàm đạo  chuyện đời, chuyện làng xóm.  Đôi khi vắng khách, Thước cũng cầm quân, nhưng chủ yếu anh xem đánh cờ và nghe chuyện. Rất nhiều cảnh sống, chuyện làng quê và những tính cách, số phận nhân vật   trong các tác phẩm của Thước được rút ra từ những chuyện anh được nghe hàng ngày. Thước không có điều kiện học ở trường, cũng không  có nhiều sách để đọc về lý luận văn học, phương pháp sáng tác và tiếp cận với các trường phái, trào lưu văn học.

Anh viết văn như lưu giữ những ký ức của làng quê với bao vui buồn, mong ước trong cái không gian văn hóa ngàn đời đang có những biến động dữ dội của thời toàn cầu hóa đã len lỏi vào tận từng ngõ xóm. Văn hóa Việt bắt nguồn từ văn hóa làng, làng quê là nơi

Page 16: Tieu Thuyet Nong Thon

lưu giữ văn hóa vô cùng bền vững và có những quy luật riêng. Vì vậy hàng nghìn năm Bắc thuộc, Nước mất nhưng làng không mất, kẻ thù dùng nhiều thủ đoạn với dã tâm  đồng hóa nhưng văn hóa của cha ông vẫn bất tử trong văn hoá làng. Làng vẫn âm thầm nuôi giấu những anh hùng hào kiệt, những sĩ phu để rồi họ từ những chân tre mái rạ lớn lên ra đi đòi lại nước. Hiện thực của làng với lối sống, phép ứng sử, dựng vợ gả chồng, sinh con đẻ cái, nuôi dạy con cái, thờ phụng tổ tiên diễn ra bình thường, tự nhiên như trời đất, nhưng ẩn chứa bao điều minh triết khôn ngoan, hài hòa với Thiên Địa và sâu thẳm nhân văn.

Thước như cái cây hút nhựa sống từ chính cái minh triết ấy qua chuyện buồn vui của làng anh được nghe, được thấy hàng ngày và anh đã viết nên những trang văn về nông thôn Việt Nam thời đổi mới như một thứ đặc sản của riêng anh. Những truyện như “Tháng ba thương mến”, “Trạm xá làng”, “Tráng sĩ gà”, “Về một miền khắc khoải”... là những trang văn viết về nông thôn mới với tính cách, số phận người nông dân thời hiện đại tươi rói một hiện thực mới lạ. Trên văn đàn lúc đó và cả hiện nay, vẫn có người viết về nông thôn nhưng không khí làng quê và các nhân vật nông dân còn dáng dấp của nông dân, nông thôn của những năm 60, 70 của thế kỷ trước. Nông dân của Thước là nông dân mới, vừa làm ruộng, vừa buôn bán hoặc làm công nhân theo thời vụ. Làng quê của Thước có nhà hàng, quán caraoke, một làng quê đang mơ giấc mơ đô thị hóa nhưng vẫn có lễ hội đình làng, cúng bái đền miếu và thờ phụng tổ tiên, giữ lễ nghĩa gia tộc. Nhân vật của Thước thường là những số phận nhỏ nhoi như anh thợ cày, ông đun te, anh riu tép, chị thợ cấy, ông thầy cúng, người làm vàng mã. Họ sinh ra ở làng, thảo thơm chăm chỉ làm lụng, yêu đương, sinh con đẻ cái, ước mong chỉ là được sống yên vui, no đủ, con cái ăn học nên người. Chỉ thế thôi mà đằng sau mỗi số phận có biết bao điều chi phối, giằng xé,  những yêu thương và thù hận, những may mắn và tai ương luôn đan cài trong thế giới nhân vật của Trần Văn Thước.

Làng quê bình lặng với những cánh đồng, dòng sông bến nước, nhưng ẩn chứa bên trong là  những cảnh đời không đơn giản được Trần Văn Thước chắt lọc nên những trang văn thấm đẫm tình yêu và lòng nhân ái. Đọc Trần Văn Thước, người ta cảm nhận được một vùng nông thôn đang biến động mãnh liệt do tác động của kinh tế hàng hóa, một thế hệ nông dân mới với lối sống mới, cách ứng xử mới, với những mâu thuẫn, va chạm lợi ích mới, nhưng tựu chung lại anh vẫn dựng lên một bức tranh về nông thôn thời hiện đại với nét đẹp được lưu giữ bằng văn hóa làng truyền thống của riêng anh.

Từ khi về quê năm 1985 đến nay, vừa bán hàng vừa đứng tựa cây nạng gỗ viết văn, Trần Văn Thước đã xuất bản 10 tác phẩm, trong đó có 2 cuốn tiểu thuyết và 8 tập truyện ngắn. Tận mắt nhìn thấy Thước gầy gò đu mình trên cây nạng  gỗ viết từng nét chữ, mới hiểu được sự lao động khổ công của anh đến dường nào để sáng tạo ra từng ấy tác phẩm. Có thể nói anh đã vắt kiệt sức mình cho văn chương.

Đức Hậu

(Hội Văn học nghệ thuật Thái Bình)

Page 17: Tieu Thuyet Nong Thon

o

Tủ sách văn hoá học Thư viện ảnh Thư viện video

Tiện ích o Dịch vụ Văn hóa học o Dịch vụ ngoài VHH o Trợ giúp vi tính o Từ điển Văn hóa học o Thư viện TT và Khoa o Tổng mục lục website

Thư giãn VHH o Văn chương Việt Nam o Văn chương nước ngoài o Nghệ thuật Việt Nam o Nghệ thuật thế giới o Hình ảnh vui o Video vui

Diễn đàn Liên hệ

Bạn đang xem: Đào tạo - Huấn luyện Đào tạo ở Khoa VHH Kết quả đào tạo Nguyễn Thái Sơn. Tính cách người nông dân Việt Nam qua một số tác phẩm …

Skip to content

Nguyễn Thái Sơn. Tính cách người nông dân Việt Nam qua một số tác phẩm … Thứ ba, 20 Tháng 5 2008 16:50 Lê Thị Ngọc Điệp

NGUYỄN THÁI SƠN

Năm sinh : 1956, Hà Tĩnh

Liên đoàn Địa chất thủy văn miền Nam

ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ :

TÍNH CÁCH NGƯỜI NÔNG DÂN VIỆT NAM

QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN XUÔI

THỜI KỲ ĐỔI MỚI NHÌN TỪ VĂN HÓA HỌC

Page 18: Tieu Thuyet Nong Thon

 

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

5. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu

6. Bố cục luận văn

Chuơng 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1. 1. Mối quan hệ văn học và văn hóa. Hướng nghiên cứu văn hóa học văn học

1.1. 1. Mối quan hệ giữa văn học và văn hóa

1.1. 2. Hướng nghiên cứu văn hóa học văn học

1. 2. Tính cách nhân vật trong văn học và hướng nghiên cứu tâm lý nhân cách trong văn hóa

1. 2. 1. Tính cách nhân vật trong văn học

1. 2. 2. Hướng nghiên cứu tâm lý, nhân cách trong văn hóa

1. 3. Đề tài nông thôn và nông dân trong văn xuôi thời kỳ đổi mới

1. 3. 1. Bối cảnh lịch sử

1. 3. 2. Đề tài nông thôn và nông dân trong tác phẩm văn xuôi thời kỳ đổi mới nói chung và trong sáng  tác của các nhà văn Nguyễn Minh Châu, Lê Lựu, Nguyễn Khắc Trường, Nguyễn Huy Thiệp nói riêng

 

Chương 2: TÍNH CÁCH NGƯỜI NÔNG DÂN VIỆT NAM QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN XUÔI THỜI KỲ ĐỔI MỚI TỪ  GÓC NHÌN VĂN HÓA NHẬN THỨC

2. 1. Tư duy tổng hợp chú trọng các mối quan hệ

2. 2. Triết lý âm dương và lối sống quân bình hướng tới sự hài hòa

Chương 3: TÍNH CÁCH NGƯỜI NÔNG DÂN VIỆT NAM QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN XUÔI THỜI KỲ ĐỔI MỚI TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA ỨNG XỬ VỚI MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN

3. 1. Tận dụng, đối phó với môi trường tự nhiên trong sản xuất

3.2. Tận dụng, đối phó với môi trường tự nhiên trong ăn, mặc, ở, đi lại                                                                                            

Chương 4: TÍNH CÁCH NGƯỜI NÔNG DÂN VIỆT NAM QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN XUÔI THỜI KỲ ĐỔI MỚI TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA TỔ CHỨC XÃ HỘI NÔNG THÔN

1. 1. Tính cách người nông dân xuất phát từ tính cộng đồng và tính tự trị

Page 19: Tieu Thuyet Nong Thon

1. 2. Tính cách người nông dân xuất phát từ mối quan hệ gia đình - gia tộc, làng - nước

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU KHẢO SÁT, TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

TÓM TẮT ĐỀ TÀI LUẬN VĂN :

TÍNH CÁCH NGƯỜI NÔNG DÂN VIỆT NAM QUA MỘT SỐ

TÁC PHẨM VĂN XUÔI THỜI KỲ ĐỔI MỚI

NHÌN TỪ VĂN HÓA HỌC

 

<!--[if !supportLists]-->1. <!--[endif]-->LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI VÀ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Ngày nay, nghiên cứu văn hóa đã và đang trở thành một vấn đề bức thiết. Để nghiên cứu văn hóa có nhiều hướng tiếp cận, trong đó, nghiên cứu văn hoá từ văn học, là một hướng quan trọng. Việt Nam là một quốc gia nông nghiệp, có đến hơn 80% dân số là nông dân. Bởi vậy, về bản chất, văn hóa Việt Nam là văn hóa nông thôn.

Văn học là một mảng tư liệu cực kỳ phong phú, nó miêu tả rất cụ thể, tỉ mỉ và rất thành công xã hội nông thôn và người nông dân Việt Nam. Bởi thế, sẽ là rất thiếu sót nếu chưa khai thác tối đa văn học trong  nghiên cứu về văn hóa nông thôn, về tính cách người nông dân Việt Nam.

Văn học là một bộ phận của văn hóa. Trong nền văn học Việt Nam thì văn xuôi nói chung và văn xuôi thời kỳ đổi mới (1986- 2000) chiếm một vị trí quan trọng.

Nhằm mục đích nghiên cứu văn hoá thông qua con đường văn học, chúng tôi muốn nghiên cứu tính cách người nông dân Việt Nam (mà thật ra là nghiên cứu tính cách người Việt Nam, vì suy cho cùng, người Việt Nam nào cũng mang nguồn gốc nông dân!) chủ yếu dựa trên một số tác phẩm văn xuôi thời kỳ đổi mới (1986 -2000).

<!--[if !supportLists]-->2. <!--[endif]-->ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

         Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề tính cách người nông dân Việt Nam thông qua hình ảnh của họ đã được khắc họa trong một số tiểu thuyết và truyện ngắn giai đoạn 1986 - 2000.  Luận văn tập trung khảo sát, nghiên cứu các tác phẩm của các nhà văn Lê Lựu (Thời xa vắng), Nguyễn Khắc Trường (Mảnh đất lắm người nhiều ma) (mảng tiểu thuyết) và Nguyễn Minh Châu (Tuyển tập truyện ngắn), Nguyễn Huy Thiệp (Tuyển tập truyện ngắn) (mảng truyện ngắn).

<!--[if !supportLists]-->3. <!--[endif]--> LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

         - Các nhà nghiên cứu văn hóa nói về tính cách người nông dân Việt Nam: Đào Duy Anh, Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Vĩnh, Trần Quốc Vượng, Nguyễn Văn Hạnh, Phan Ngọc, Trần Ngọc Thêm…Trong đó đáng chú ý nhất là tác giả Trần Ngọc Thêm vì ông đã tổng kết tính cách

Page 20: Tieu Thuyet Nong Thon

người nông dân Việt Nam một cách rất khoa học, hệ thống dựa trên cơ sở cấu trúc văn hóa và loại hình văn hóa.

         - Các nhà văn, nhà phê bình văn học cũng bàn về tính cách người nông dân Việt Nam qua một số tác phẩm văn học, những bài báo, hội thảo…Chẳng hạn các tác giả: Hoàng Ngọc Hiến, Trần Đăng Khoa, Trịnh Thu Tuyết, Nguyễn Văn Kha, Trần Cương…và rất nhiều người khác

<!--[if !supportLists]-->4. <!--[endif]--> PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN TÀI LIỆU

          - Phương pháp nghiên cứu văn hóa học-văn học. Phương pháp này chủ yếu dựa trên tư liệu văn học để nghiên cứu văn hóa, từ đó sẽ có những kết luận về văn hóa

         - Phương pháp so sánh: Trên cơ sở của những sự tương đồng và khác biệt về tính cách người nông dân Việt Nam có trong các tác phẩm nghiên cứu và tính cách người nông dân truyền thống thể hiện qua tục ngữ, ca dao..

Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác như: phương pháp hệ thống, phương pháp phân tích tác phẩm…

Về nguồn tài liệu, chúng tôi tìm tòi, tra cứu trong các thư viện trường Đại học KHXH& NV Thành phố Hồ Chí Minh, thư viện Khoa học Xã hội và một số nhà sách lớn ở Thành phố Hồ Chí Minh.

<!--[if !supportLists]-->5. <!--[endif]-->BỐ CỤC LUẬN VĂN

         Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 4 chương:

Chương 1: Những vấn đề chung

Chương 2: Tính cách người nông dân qua một số tác phẩm văn xuôi thời kỳ đổi mới từ góc nhìn văn hóa nhận thức

Chương 3: Tính cách người nông dân Việt Nam trong một số tác phẩm văn xuôi thời kỳ đổi mới từ góc nhìn văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên

Chương 4: Tính cách người nông dân qua một số tác phẩm văn xuôi thời kỳ đổi mới từ góc nhìn văn hóa tổ chức xã hội ở nông thôn

 

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1. 1. Mối quan hệ văn học và văn hóa. Hướng nghiên cứu văn hóa học  văn học

1. 1. 1. Mối quan hệ giữa văn học và văn hóa

         Văn học đồng thời cũng là một bộ phận của văn hoá. Giữa văn học và văn hoá có một mối liên hệ khăng khít. Hơn thế nữa, đó là mối quan hệ biện chứng, đa chiều … trong quá trình phát triển và bảo tồn. Mối quan hệ đó mật thiết đến nỗi giáo sư Phan Ngọc đã từng nhận xét: “Văn hoá trước hết là văn học, và đối với người Việt Nam thì gần như chỉ là văn học” [Phan Ngọc 1994: 37].

Page 21: Tieu Thuyet Nong Thon

         Về vấn đề mối quan hệ giữa văn học và văn hóa, một số nhà nghiên cứu có ít nhiều đề cập trong tác phẩm của mình, thông qua việc đánh giá về vị trí, vai trò hay tầm quan trọng… của văn học đối với văn hóa.

         Công trình Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam” của tác giả Trần Ngọc Thêm (NXB. Tổng hợp TP.HCM, 2004).

Công trình Bản sắc Việt Nam qua giao lưu văn học của tác giả Nguyễn Bá Thành (NXB. Đại học Quốc gia, HN, 2006) có sự quan tâm nhiều hơn đối với mối quan hệ văn học và văn hóa.

          Công trình  Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học của tác giả Đỗ Thị Minh Thúy (NXB. Văn hóa Thông tin, HN, 1997) có thể nói,  là dày dặn nhất (334 trang) bàn về vấn đề mối quan hệ văn học và văn hóa.

<!--[if !supportLists]-->1.      <!--[endif]-->1. 2.  Hướng nghiên cứu văn hóa học văn học

Văn hóa học văn học là một phân môn của văn hóa học, cũng tương tự như văn hóa học địa lý, văn hóa học lịch sử, văn hóa học tôn giáo, văn hóa học kinh tế, văn hóa học chính trị, văn hóa học nghệ thuật…Hướng nghiên cứu văn hóa học văn học cũng dựa trên quan hệ văn học phản ánh cuộc sống và con người, văn học phản ánh văn hóa để đặt vấn đề tìm hiểu văn hóa qua sự phản ánh của văn học.

        Về hướng nghiên cứu này trên thế giới có thể kể đến trước hết là Hippolyte Taine và trường phái văn hóa - lịch sử.

            Hippôlyte Taine cũng là người đã đưa ra khái niệm “Ba động lực đầu tiên” (chủng tộc, môi trường và thời điểm) để giải thích những đặc điểm mang tính cách dân tộc của con người”.

           H. Taine đã đặt văn học trong quan hệ ba chiều của đời sống văn hóa con người” [Đỗ Thị Minh Thúy 1997: 101, 102].

Ngoài ra, còn có một số công trình tiêu biểu khác, chẳng hạn, công trình của M.M. Bakhtin: “Sáng tác của Francois Rabelais và nền văn hóa dân gian Trung cổ và Phục hưng”. Chuyên khảo “Sáng tác của Francois Rabelais và nền văn hóa dân gian Trung cổ và Phục hưng” từ lâu đã được công luận thế giới thừa nhận không chỉ như một sự kiện lớn trong lịch sử nghiên cứu và kiến giải Rabelais, mà còn như một công trình kiệt xuất về lý luận và triết học văn hóa nhân loại. Nó đưa ra luận thuyết về kiểu hình tượng nghịch dị đặc trưng không riêng cho Rabelais, mà còn cho tất cả các tác phẩm văn nghệ trào tiếu gắn với văn hóa dân gian.

Đây là một công trình tiêu biểu, mẫu mực cho hướng nghiên cứu văn hóa học văn học.

Nghiên cứu văn hóa học văn học là một hướng nghiên cứu tuy không mới mẻ ở Việt Nam nhưng nó chưa thực sự sâu rộng. có thể kể tên một số tác giả, với những công trình nghiên cứu dạng bài viết nhỏ, lẻ: “Tính văn hóa của tác phẩm văn học” của tác giả Lê Nguyên Cẩn, bài “Tiếp cận văn học bằng văn hóa học” của tác giả Nguyễn Văn Dân. Hoặc, bài “Mối quan hệ giữa nghiên cứu văn học và văn hóa học” của tác giả Nguyễn Văn Hiệu...

Với những bài nghiên cứu dạng nhỏ, lẻ như trên nhìn chung chưa thể xây dựng một nền tảng lý thuyết một cách cơ bản cho hướng nghiên cứu văn hóa học văn học.

Hiện nay, việc nghiên cứu văn hóa học văn học ở Việt Nam chưa có nhiều tác giả, nhiều công trình nghiên cứu lớn. Một trong số ít các nhà nghiên cứu  có công trình tương đối thành công, nổi trội là tác giả Đỗ Lai Thúy với tác phẩm Từ cái nhìn văn hóa (NXB. Văn hóa dân tộc, HN, 1999).

Page 22: Tieu Thuyet Nong Thon

         1. 2. Tính cách nhân vật trong văn học và hướng nghiên cứu tâm lý, nhân cách trong văn hóa

1. 2. 1. Tính cách nhân vật trong văn học

“Tính cách là khái niệm chỉ toàn bộ những điểm đặc thù về lối sống, cách suy nghĩ, ứng xử của một nhân vật do nhà văn tạo nên, góp phần khu biệt với các nhân vật khác. Tính cách là hình ảnh con người được phác họa đến mức đủ rõ và đủ tính xác định, thông qua đó làm bộc lộ một dạng hành vi, suy nghĩ, lời nói có căn nguyên lịch sử, đồng thời cũng làm bộc lộ một quan điểm của tác giả về tồn tại con người. Tính cách (của văn học, nghệ thuật) là sự thống nhất hữu cơ giữa cái chung, cái mang sự trùng lặp, và cái cá thể, cái riêng, là sự thống nhất giữa cái có tính khách quan và cái mang tính chủ quan”

Chính vì tính cách nhân vật, đặc biệt là tính cách điển hình, là tổng hòa giữa cái chung và cái riêng, nét khái quát và nét cá tính độc đáo cho nên qua phân tích những nhân vật nông dân được xây dựng thành công như những tính cách điển hình trong văn xuôi thời kỳ đổi mới ta có thể thấy được đặc điểm tính cách người nông dân, thậm chí tính cách con người Việt Nam đã được phản ánh một cách sinh động, đầy thuyết phục.

<!--[if !supportLists]-->1.      <!--[endif]-->2. 2. Hướng nghiên cứu tâm lý, nhân cách trong văn hóa

Nghiên cứu tâm lý, nhân cách trong các nền văn hóa là một đặc điểm quan trọng của tiến hóa luận, được xem như là một phương pháp nghiên cứu văn hóa. Từ giữa thế kỉ XIX đã hình thành một xu hướng độc lập, trong đó Tâm lý học dân tộc đã trở thành trung tâm nghiên cứu của xu hướng này. Hai nhà bác học người Đức là M. Laxarutx (1824- 1903) và H. Stêintan (1823- 1899) đã đề xuất phân môn này.

         Trong tâm lý học dân tộc có thể phân ra hai bình diện Bình diện thứ nhất có tên là Tâm lý học lịch sử - tộc người; bình diện thứ hai là Dân tộc học tâm lý. Những bình diện nghiên cứu trên đây thực tế đã là bộ phận bắt buộc của bất cứ trào lưu văn hóa học nào.

Vào cuối những năm 20, đầu những năm 30 của thế kỉ XX, phương hướng “Văn hóa - và - nhân cách” đã thực hiện một bước ngoặt trong văn hóa học. Chủ đề trung tâm của hướng nghiên cứu này, đặc biệt trong những thời kỳ phát triển đầu tiên, là nghiên cứu sự gia nhập của văn hóa, nghiên cứu ý nghĩa của tuổi thơ đối với những đặc điểm hoạt động của nhân cách trưởng thành.

Từ những thành tựu của những nhà nghiên cứu đi trước như vậy, có thể thấy hướng nghiên cứu tính cách, tâm lý dân tộc từ dữ liệu tác phẩm văn học, qua tính cách nhân vật là hướng nghiên cứu có ý nghĩa, có triển vọng.

1. 3. Đề tài nông thôn và nông dân trong văn xuôi thời kỳ đổi mới

1. 3. 1. Bối cảnh lịch sử

Năm 1986 là một mốc lịch sử quan trọng, đánh dấu nhiều thay đổi lớn lao. Đó là thời kỳ đất nước bắt đầu có những sự đổi mới, những chuyển mình căn bản, sâu rộng về chính trị, kinh tế, văn hóa…

Thời kỳ 1986- 2000 là những năm đổi mới cuối thế kỷ 20. Đây là thời kỳ đất nước đang chuyển mình từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nông thôn Việt Nam đang có những thay đổi to lớn: nông thôn đang dần bị đô thị hóa, văn hóa nông thôn chuyển dần sang văn hóa đô thị. Văn xuôi viết về đề tài nông thôn thời kỳ này cũng chuyển mình, đổi mới trong phong trào đổi mới chung của đất nước. Tất

Page 23: Tieu Thuyet Nong Thon

nhiên, mốc 1986 không thể là cứng nhắc vì sự đổi mới của văn học nói chung và văn xuôi nói riêng đã có bước chuyển mình từ một vài năm trước đó. Tương tự, mốc 2000 cũng chỉ là tương đối vì quá trình đổi mới và văn học thời kỳ này vẫn chảy liền mạch sang thế kỷ 21, cho đến những ngày tháng hôm nay.

1. 3. 2. Đề tài nông thôn và nông dân trong văn xuôi thời kỳ đổi mới nói chung và trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu, Lê Lựu, Nguyễn Khắc Trường, Nguyễn Huy Thiệp nói riêng

Nông thôn và nông dân là một đề tài lớn, phức tạp và rất hấp dẫn, được nhiều những thế hệ nhà văn quan tâm khai thác. Nông thôn trước năm 1986 trong các tác phẩm văn xuôi là một xã hội bình ổn, ít có những xáo trộn, những mâu thuẫn và sự đấu tranh. Thực trạng của nông thôn chỉ được phản ánh đúng sự thực vốn có của nó, một cách không che đậy trong văn xuôi sau năm 1986. Viết về đề tài nông thôn và người nông dân Việt Nam thời kỳ đổi mới có khá nhiều tác giả: Nguyễn Khải, Dương Hướng (mảng tiểu thuyết), Sơn Nam, Phùng Gia Lộc, Nguyễn Ngọc Tư (mảng truyện ngắn)… Nhưng, nổi bật nhất, là bốn tác giả: Nguyễn Minh Châu, Lê Lựu, Nguyễn Khắc Trường, Nguyễn Huy Thiệp.

Nguyễn Minh Châu là nhà văn quân đội. Ông viết nhiều về đề tài chiến tranh và những người lính. Nhưng những truyện ngắn hay nhất, nổi tiếng nhất của Nguyễn Minh Châu lại là truyện ngắn viết về đề tài nông thôn và người nông dân. Đó là cặp đôi Khách ở quê ra và Phiên chợ giát. Có thể nói, những truyện ngắn đó là tất cả những gì tinh hoa nhất trong sự nghiệp viết văn của ông. Như lời nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Hiến nhận định:“Truyện này là một giả thuyết văn học về bản chất và thân phận người nông dân”.

Lê Lựu là nhà văn, nhưng trước hết, ông là một nông dân “thứ thiệt một trăm phần trăm”. Nông thôn Việt Nam, dưới ngòi bút tài hoa của Lê Lựu đã hiện lên rất sinh động thông qua cái làng Hạ Vị quê ông. Thời xa vắng là một bước đột phá mới trong cách nhìn về người nông dân Việt Nam. Tiểu thuyết Thời xa vắng của Lê Lựu phản ánh sinh động và chân thực quá trình chuyển biến trong cách nhìn nhận, đánh giá lại thực tại đó. Ở đây không chỉ đơn thuần là một bi kịch tình yêu của anh nông dân Giang Minh Sài nào đó mà là những vấn đề tâm lý- xã hội chung của thời đại.

Nguyễn Khắc Trường thuộc lớp nhà văn trưởng thành từ cuộc kháng chiến chống Mỹ. Mảnh đất lắm người nhiều ma  là tiểu thuyết viết về đề tài nông thôn đầu tiên của tác giả. Nguyễn Khắc Trường miêu tả lề thói và thành kiến hủ lậu vùng Giếng Chùa, đã thâm nhập vào đời sống nông thôn, đã chi phối nếp nghĩ và cách ứng xử của nông dân. Đánh giá sự thành công của nhà văn Nguyễn Khắc Trường viết về đề tài nông thôn, nhà thơ Trần Đăng Khoa khẳng định: “Có thể nói tắt từ Nam Cao, qua một chút Kim Lân, đến Nguyễn Khắc Trường và Lê Lựu, chúng ta mới lại có nhà văn nông thôn thứ thiệt”.

Nguyễn Huy Thiệp là nhà văn lớp đàn em so với Nguyễn Minh Châu, Lê Lựu, và Nguyễn Khắc Trường. Đề tài nông thôn và người nông dân chiếm một tỉ trọng khá lớn trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp. Nguyễn Huy Thiệp không xây dựng nhân vật điển hình, hoàn cảnh điển hình trong truyện ngắn của mình kiểu như Nguyễn Minh Châu, Lê Lựu, Nguyễn Khắc Trường, nhưng những truyện ngắn của ông viết về nông thôn và người nông dân vẫn có điều gì đó gợi cho người đọc cảm nhận về những điều sâu thẳm nhất, nhức nhối, bức bách của xã hội nông thôn; những mảnh đời, những số phận nông dân cay đắng “dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần”, cùng với những ước mơ về một cuộc sống hạnh phúc, ấm no…

Chương 2

TÍNH CÁCH NGƯỜI NÔNG DÂN VIỆT NAM QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN XUÔI THỜI KỲ ĐỔI MỚI TỪ  GÓC NHÌN VĂN HÓA NHẬN THỨC

         2. 1. Tư duy tổng hợp chú trọng các mối quan hệ

Page 24: Tieu Thuyet Nong Thon

Nghề nông sống phụ thuộc vào thiên nhiên, không chỉ một hoặc hai hiện tượng riêng lẻ nào mà cùng lúc phụ thuộc vào tất cả: trời đất, nắng mưa, gió bão…Bởi vậy người nông nghiệp Việt Nam có lối tư duy tổng hợp chú trọng các mối quan hệ. Nghĩa là lối tư duy dựa trên mối quan hệ qua lại giữa các yếu tố riêng rẽ, có cái này ắt có cái kia. Kiểu như: quạ tắm thì ráo, sáo tắm thì mưa; Được mùa lúc thì úa mùa cau; Thâm đông thì mưa, thâm dưa thì khú, thâm vú thì chửa…

Lối tư duy này thể hiện tính cách của người nông dân , được các tác giả miêu tả rất rõ trong các tác phẩm văn xuôi của mình. Đó là, sự chuyển hóa âm dương, may rủi qua câu chuyện hổ vằn (Mảnh đất lắm người nhiều ma), tham thì thâm: nhân vật Pành (truyện Đất quên)…

2. 2. Triết lý âm dương và lối sống quân bình hướng tới sự hài hòa

Người nông nghiệp Việt Nam có lối nhận thức, tư duy mang đậm tính cách âm dương từ tận trong máu tủy. Chính nhờ nắm vững qui luật “trong âm có dương, trong dương có âm” và qui luật âm dương chuyển hóa mà người nông dân có triết lý sống quân bình, hướng tới sự hài hòa như là một tính cách điển hình. Tính cách nổi trội đó của người nông dân được các nhà văn Nguyễn Minh Châu, Lê Lựu, Nguyễn Khắc Trường khắc họa khá rõ nét trong các tác phẩm văn xuôi của họ. Đó là ông tướng thuấn (truyện Tướng về hưu), bà cụ Lâm (Những bài học nông thôn), là nhân vật Giang Minh Sài với lối sống ở sao cho vừa lòng người…

 

Chương 3

TÍNH CÁCH NGƯỜI NÔNG DÂN VIỆT NAM QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN XUÔI THỜI KỲ ĐỔI MỚI TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA ỨNG XỬ

VỚI MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN

3. 1. Tận dụng, đối phó với môi trường tự nhiên trong sản xuất

Môi trường tự nhiên có một tầm quan trọng hết sức lớn lao đối với đời sống con người nói chung và người nông dân nói riêng. Con người sống trong môi trường tự nhiên, có mối quan hệ chặt chẽ với môi trường tự nhiên thông qua cách ứng xử của mình. Và đó chính là sự thể hiện văn hóa của con người đối với tự nhiên. Thông qua việc ứng xử, tận dụng, đối phó của các nhân vật trong các tác phẩm văn học có thể thấy được tính cách của người nông dân Việt Nam bộc lộ.

Do cơ chế sản xuất nông nghiệp gắn liền với sự ổn định, lâu dài, phụ thuộc rất nhiều vào môi trường tự nhiên, vậy nên người nông dân Phương Đông nói chung và Việt Nam nói riêng có lối ứng xử tôn trọng và hoà hợp với tự nhiên, tận dụng và đối phó với tự nhiên trong sản xuất và sinh hoạt: “Ơn trời mưa nắng phải thì. Nơi thì bừa cạn nơi thì cày sâu”; “Lạy trời mưa xuống, lấy nước tôi uống, lấy ruộng tôi cày”…Lối ứng xử đó được thể hiện rất rõ qua tính cách của nhân vật Khúng (Khách ở quê ra), là một lão nông có tình yêu đặc biệt đối với đất dai, ruộng vườn. Ngoài lão Khúng còn có nhiều những nhân vật khác, như lão Hàm, bà Son, lão Quềnh…

3. 2. Tận dụng, đối phó với môi trường tự nhiên trong ăn, mặc, ở, đi lại…

Ăn, mặc, ở, đi lại…là nét văn hoá là ứng xử của người nông nghiệp Việt Nam. Đó là việc tận dụng, đối phó với môi trường tự nhiên, là truyền thống văn hoá nông nghiệp lúa nước của người Việt Nam.

Tận dụng tự nhiên một cách triệt để, linh hoạt và hài hòa trong việc ăn, mặc, ở, đi lại…là văn hóa ứng xử của người Việt Nam, thể hiện tính cách của người làm nông nghiệp lúa nước. Tính cách đó đã được các nhà văn Nguyễn Minh Châu, Lê Lựu, Nguyễn Khắc Trường, Nguyễn

Page 25: Tieu Thuyet Nong Thon

Huy thiệp khắc họa khá đậm nét trong tác phẩm, thông qua những nhân vật nông dân nổi trội. Có thể thấy rõ tính cách đó của người nông dân qua cơ cấu bữa ăn (như bữa cơm của gia đình Lâm- truyện Những bài học nông thôn): cơm, rau, cá là những thức ăn chính. Và họ luôn biết tận dụng thời tiết để đánh bắt cá, tôm…

 

Chương 4TÍNH CÁCH NGƯỜI NÔNG DÂN VIỆT NAM QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM

VĂN XUÔI THỜI KỲ ĐỔI MỚI TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA

TỔ CHỨC XÃ HỘI NÔNG THÔN

Việt Nam là quốc gia có nền văn hoá gốc nông nghiệp điển hình. Bởi vậy, tổ chức nông thôn là vấn đề quan trọng nhất, thiết yếu nhất của xã hội. Nó có tính quyết định hình thành nên bộ mặt xã hội nông thôn, cũng như tính cách của người nông dân.

4. 1. Tính cách người nông dân xuất phát từ tính cộng đồng và tính tự trị

Tổ chức xã hội nông thôn Việt Nam có hai đặc trưng cơ bản là tính cộng đồng và tính tự trị. Từ hai đặc trưng cơ bản đó đã hình thành nên tính cách người nông dân Việt Nam.

Tính cộng đồng nhấn mạnh sự đồng nhất nên nảy sinh tinh thần đoàn kết tương trợ  lẫn nhau (…) “lá lành đùm lá rách”, tính tập thể rất cao và cũng chính là ngọn nguồn của nếp sống dân chủ, bình đẳng. Sự đồng nhất còn dẫn đến thói dựa dẫm, ỷ lại  vào tập thể: nước nổi thì bèo nổi (…) thói cào bằng, đố kỵ…

Tính tự trị chú trọng nhấn mạnh vào sự khác biệt tạo nên tinh thần tự lập tính chịu thương chịu khó. Mặt khác, cũng chính do nhấn mạnh vào sự khác biệt mà người Việt Nam có thói xấu là óc tư hữu, ích kỷ, “Ai có thân người ấy lo” (…) óc bè phái, địa phương cục bộ…

Những tính cách đó được các nhà văn Nguyễn Minh Châu, Lê Lựu, Nguyễn Khắc Trường, Nguyễn Huy Thiệp khắc hoạ khá rõ nét, sinh động và đặc sắc thông qua những nhân vật, những con người, những hoàn cảnh cụ thể trong tác phẩm văn xuôi viết về đề tài nông thôn của họ. Đó là nếp sống dân chủ trong gia đình Lâm, tinh thần đoàn kết tương trợ của nhân vật Son, đầu óc tư hữu của Lão Khúng, thói ích kỷ của anh em nhà Khảm, Đoài (Không có vua) óc bè phái cục bộ của Trịnh Bá Thủ, Hàm. Phúc…, thói gia trưởng của ông bố Giang Minh Sài…

         4. 2. Tính cách người nông dân xuất phát từ mối quan hệ gia đình - gia tộc, làng - nước

         Nói đến nông thôn là nói đến cộng đồng làng xã mà hạt nhân của nó là gia đình, gia tộc. Gia đình là hạt nhân, tuy nhiên để đảm bảo cho tính bền vững, ổn định thì vấn đề liên kết, hỗ trợ cho nhau (để chống lại thiên tai, lũ lụt hay sản xuất kịp thời vụ…) là rất quan trọng. Vì vậy, vai trò của gia tộc và cộng đồng làng xã trở nên quan trọng hơn rất nhiều so với gia đình hạt nhân.

“Một giọt máu đào hơn ao nước lã”. Câu tục ngữ đó thể hiện đầy đủ tính chất và tầm quan trọng của gia tộc trong cơ cấu tổ chức xã hội nông thôn Việt Nam.

Viết về đề tài nông thôn, mà cụ thể là vấn đề quan hệ gia đình, dòng tộc, có lẽ nhà văn Nguyễn Khắc Trường với tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma là cây bút thành công nhất những năm gần đây.

Lợi ích của cá nhân, gia đình, dòng tộc là mối quan tâm hàng đầu của người nông dân. Bởi vậy, một khi quyền lợi, danh dự của dòng họ bị đụng chạm hoặc có nguy cơ bị xâm hại thì

Page 26: Tieu Thuyet Nong Thon

chắc chắn người nông dân không thể để yên. Và, cuộc chiến tàn khốc, không khoan nhượng, kéo dài từ đời này qua đời khác xảy ra giữa hai dòng họ Trịnh Bá và Vũ Đình, với đủ mọi mưu mô xảo quyệt và hành vi độc ác, đê tiện, được nhà văn Nguyễn Khắc Trường miêu tả một cách sắc sảo, sống động trong tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma. 

Ranh giới làng - nước trong quan niệm của người Việt Nam là không rõ ràng. Ở nước hay ở làng thì lối sống, cách ứng xử vẫn không hề thay đổi. Điều này có thể thấy rất rõ trong tiểu thuyết Thời xa vắng của nhà văn Lê Lựu và tiểu thuyết Mảnh đất Lắm người nhiều ma của nhà văn Nguyễn Khắc Trường.

Ranh giới làng - nước trong quan niệm của người Việt Nam là không rõ ràng. Ở nước hay ở làng thì lối sống, cách ứng xử vẫn không hề thay đổi. Điều này có thể thấy rất rõ trong tiểu thuyết Thời xa vắng của nhà văn Lê Lựu và tiểu thuyết Mảnh đất Lắm người nhiều ma của nhà văn Nguyễn Khắc Trường. Giang Minh Sài cùng những đồng chí của anh, những Hiểu, Hiền, Chính ủy trung đoàn… là những quân nhân, là “người nhà nước”, sống ở nước, nhưng tính cách, lối sống, lối xử sự của họ vẫn như ở nhà, ở làng. Lối ứng xử của Trịnh Bá Thủ, Vũ Đình Phúc cùng các cán bộ xã, làng Giếng Chùa cũng dựa trên mối quan hệ tình cảm cá nhân là chính. Tuy là việc của xã - việc nước, nhưng “Bí thư Đảng ủy xã” Trịnh Bá Thủ và “Chủ nhiệm” Vũ Đình Phúc luôn coi như là việc nhà, việc họ.

KẾT LUẬN

Dưới cái nhìn văn hóa, tính cách của người nông dân Việt Nam thể hiện qua văn hóa nhận thức, văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên, văn hóa ứng xử với môi trường xã hội trong một số tác phẩm văn xuôi hiện đại viết về các đề tài nông thôn và người nông dân của các nhà văn Nguyễn Minh Châu, Lê Lựu, Nguyễn Khắc Trường, Nguyễn Huy Thiệp đã bộc lộ một cách sinh động, điển hình và rõ nét. Những tính cách nổi trội của người nông dân Việt Nam được thể hiện qua các tác phẩm văn học bao gồm cả ưu điểm và nhược điểm.

Tính ích kỷ, nhỏ nhen, thói háo danh, thói gia trưởng, bè phái, cục bộ… Những tính cách nhược điểm này là hệ quả của tính tự trị, một trong những đặc trưng cơ bản nhất của tổ chức xã hội nông thôn. Tinh thần lạc quan, lối sống tình nghĩa, nhân hậu, bao dung, lối cư xử hài hòa, tôn trọng tự nhiên…là những tính cách tốt, nổi trội, điển hình của người nông dân Việt Nam. Họ đồng thời cũng là những con người vừa tích cực, vừa tiêu cực, tốt , xấu lẫn lộn , mang “tính cách nước đôi” của cư dân nông nghiệp điển hình.

So với những tính cách tiêu cực thì những tính cách cách tích cực của người nông dân hiện đại gần với người nông dân trong xã hội truyền thống hơn, nó được bảo tồn, lưu giữ và phát huy như một nét đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam.

Tapchinhavan.vn- Xin gửi đến bạn đọc toàn văn bài giảng của nhà thơ Hữu Thỉnh - Chủ tịch Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam trong khuôn khổ khoá tập huấn Lý luận, phê bình văn hoc nghê thuật do Hội đồng Lý luận TW tổ chúc tại Ninh Bình (10 đến 13-07-2012)

VỀ ĐỔI MỚI VĂN HỌC(Đề cương thuyết trình)

Nhà thơ Hữu ThỉnhChủ tịch Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam I. ĐỔI MỚI LÀ THUỘC TÍNH, LÀ ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA SÁNG TẠO VĂN HỌCa/ Bản chất của sáng tạo luôn luôn là làm ra cái mới, cái chưa từng có+ Văn học không chỉ phản ánh hiện thực mà còn là lĩnh vực sản xuất các giá trị tinh thần (Althusser)+ Gắn phản ánh với sản xuất là nhằm, một cách khác, nhấn mạnh yếu tố sáng tạo, đổi mới

Page 27: Tieu Thuyet Nong Thon

+ Văn học nghiền ngẫm hiện thực (Lê Ngọc Trà) trái hẳn với sự sao chép giản đơn, mà là sáng tạo lại hiện thực thông qua lăng kính của nhà văn.+ Quan niệm văn học là hình thức diễn ngôn đặc biệt(John Frow) thì nội hàm căn bản nhất của nó cũng vẫn là vừa phản ánh hiện thực vừa bộc lộ quan điểm, tư tưởng, tình cảm, cảm xúc của chủ thể.b/ Nhắc lại một số nguyên tắc trên để làm sáng tỏ một số nhận thức chung sau đây.+ Không nên cho rằng chỉ sau 1986 văn học ta mới đổi mới, từ đó dẫn đến phủ nhận văn học kháng chiến, văn học cách mạng.+ Đổi mới trong văn học là đổi mới toàn diện và tổng thể cả nội dungvà hình thức, tư tưởng và tình cảm, nhận thức và phơng pháp, đề tài và chủ đề, nghệ thuật và ngôn ngữ. Tháo ngôn ngữ ra thành một yếu tố đơn lẻ là què quặt và bế tắc.+ Sự nghiệp đổi mới là thời tiết thuận hoà chung nhưng vẫn có thể mất mùa riêng lẻ nếu bất tài+ Đặc điểm quan trọng nhất của đổi mới văn học là chuyển một nền văn học phát triển nóng, tập trung, đột xuất trong chiến tranh trở lại trạng thái hài hoà, tự nhiên, luôn luôn mở.+ Đổi mới là kế thừa và phát triển không thể là tự phủ nhận sạch trơn.+ Cách tân trong văn học có thể diễn ra trùng khớp với những cuộc cách mạng xã hội, nhưng cũng có thể lặng lẽ dự báo, đi trước, góp phần vào cuộc mở đường.c/ Mối quan hệ giữa cái mới và cái hay.+ Trong văn học, nói cho cùng là một chữ hay (Tố Hữu)+ Có cái mới nhưng không hay. Đạt đến cái hay thì luôn luôn mới+ Đổi mới không phải là lộn trái, là nói ngược (Chế Lan Viên). Khôngcó gì mau cũ bằng mốt. Không có gì bền vững bằng chân tài. Chỉ có chân tài mới tạo ra chân giá trị.

II. THÀNH TỰU CỦA ĐỒI MỚI1 Về Lý luận:+ Nền tảng tư tưởng vẫn là mỹ học mác-xít và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đồng thời tiếp nhận tinh hoa của các nền lý luận khác.+ Diễn đạt mối quan hệ giữa văn nghệ và chính trị mềm mại và nhuần nhuyễn hơn.+ Văn nghệ phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân. Vì Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội+ Xu hướng trở về với Phương Đông trở về với dân tộc là đúng đắn, cần được nuôi dưỡng lâu dài.+ Nhấn mạnh ba chức năng chu yếu của văn học ngoài ra còn chú ý đến các chức năng giao tiếp, dự báo, thông tin, giải trí...2. Về phương pháp sáng tác+ Vận dụng sáng tạo mọi phơng pháp sáng tác miễn là hay. Tôn trọng sự lựa chọn các thủ pháp nghệ thuật, những thể nghiệm mới3. Về Phê bình+ Tránh quy kết chính trị, truy cứu thành phần lý lịch và các suy diễn ngoài văn học. Khắc phục tình trạng phê bình xã hội học dung tục, không thấy hết quy luật sáng tạo là khúc xạ đời sống với biết bao giăng mắc của thế giới nội tâm con người.+ Tự do sáng tạo của nhà văn phải gắn liền với quyền tiếp nhận của công chúng.+  Tiếp thu các lý thuyết, các trường phái phê bình nhằm tiếp cận chiều sâu và vẻ đẹp của tác phẩm.+ Tạo ra không khí đối thoại cởi mở, lành mạnh, thẳng thắn, tránh kết luận vội vã, vỡ đoán, cái gì kết luận được thì kết luận, cha nhất trí thì kiên trì chờ đợi nhau.+ Xử lý mềm mại, không đưa thành vụ việc một số tác phẩm đang có sự đánh giá khác nhau, giúp nhà văn tự điều chỉnh4. Về tổ chức xây dựng Hội+ Phục hồi sinh hoạt Hội cho một số nhà văn tham gia nhóm Nhân văn- Giai phẩm.-  Phục hồi hội viên+ Phan Khôi+ Trương Tửu- Phục hồi sinh hoạt cho các nhà văn bị treo bút và đình chỉ sinh hoạt có hạn định:+ Trần Dần+ Lê Đạt+ Phùng Quán+ Hoàng CầmCần nói rõ là việc phục hồi sinh hoạt và trao giải thưởng Nhà nước cho một số nhà văn nói trên là căn cứ theo Điều lệ Hội, chứ không phải là xét lại Vụ Nhân văn- Giai phẩm. Vụ Nhân văn- Giai phẩm không phải là "Vụ án văn nghệ" mà là “Vụ án chính trị phản động”  theo thông báo của Ban Bí thư số 250-TB/TW, ngày 11/4/1991. Tại phiên toà xét xử ngày 19/1/1960 của Toà án nhân dân Hà Nội, trong bản luận tội Tòa án ghi rõ “đây là vụ án gián điệp phản cách mạng phá hoại hiện hành"+ Tổ chức 2 Hội nghị lý luận phê bình. Dám đối diện với sự thật. Thẳng thắn, cởi mở, khuyến khích đối thoại cởi mở. Có mở có gói, Tổng kết thoả đáng những vấn đề đặt ra trong Hội nghị.+ Tiến hành Hỗ trợ sáng tạo cho các nhà văn. Cung cấp miễn phí, tạp chí, báo của Hội. Mời đi các trại sáng

Page 28: Tieu Thuyet Nong Thon

tác, hỗ trợ các chuyến đi thực tế.Chăm sóc đời sống các nhà văn cao tuổi.5. Đánh giá lại một số trào lưu văn học và tác giả trước 1945+ Thơ mới và thi nhân Việt Nam+ Tự lực văn đoàn+ Vũ Trọng Phụng+ Lan Khai6. Mở rộng không gian sáng tạo của nhà văn, thổi sinh khí mới vào đời sống văn học, xuất hiện nhiều tác phẩm có giá trị.- Phê phán cơ chế bao cấp, máy móc, làm thui chột tiềm năng sáng tạo và quyền làm chủ của nhân dân. Phê phán tư duy giáo điều, máy móc, xơ cứng làm  cùn mòn năng lực trí tuệ, kìm hãm sự phát triển.(Một loạt bút ký: Cái đêm hôm ấy đêm gì của Phùng Gia Lộc, Vua lốp của Trần Huy Quang, Làm thủ tục cho người còn sông của Minh Chuyên...)- Viết về chiến tranh cách mạng với cái nhìn hiện chứng lịch sử. (Đi vào chiều sâu của sự phản ánh, thông qua việc miêu tả những hy sinh, mất mát cả những đau thương vô hạn để ca ngợi tầm cao của chủ nghĩa anh hùng)- Đề cao chủ nghĩa nhân văn, thông cảm sâu sắc số phận con người,phê phán không thương tiếc mọi cái xấu cái ác, cái phi nhân và phi luân.- Tất cả góp phần tạo nên một nền văn học đa dạng, phong phú, dân chủ, nhân văn, hội nhập với thế giới.7. Phát hiện, đào tạo, bồi dỡng một đội ngù đông đảo các tài năng trẻ+ Tổ chức đều đặn và thành công các kỳ Hội nghị những người văn trẻ. Tất cả những nhà văn sung sức nhất hiện này đều đã qua tham dự các kỳ hội nghị nói trên. Nội dung, hình thức tổ chức Hội nghị ngày càng được hoàn thiện, hấp dẫn, thực sự trở thành sinh hoạt định hớng sáng tạo cho các cây bút trẻ.+ Khôi phục Trung tâm bồi dỡng viết văn Nguyễn Du. Hiện đã được 6 khoá đào tạo, trong đó có khoá dành riêng cho các cây bút lý luận phê bình+ Mở rộng và tạo điều kiện để các cây bút trẻ xuất hiện, công bố tác phẩm, thảo luận dân chủ về các vấn đề văn học. Có cả một tờ báo Văn nghệ trẻ dành riêng cho các cây bút mới.+ Mạnh dạn kết nạp nhiều cây bút mới vào Hội. Tạo mọi điều kiện để họ tham gia vào đời sống văn học, giao lưu với các nền văn học trên thế giới. 8. Mở rộng hệ thống báo chí xuất bản của Hội, tạo điều kiện tốt nhất để các nhà văn và các tác giả công bố tác phẩm+ Lập lại Nhà xuất bản Hội Nhà văn (đã bị đình chỉ từ năm 1958) với số lượng xuất bản hàng năm trung bình 400 đầu sách+ Hình thành một tập đoàn báo chí của Hội- Báo Văn nghệ với 2 ấn phẩm ra hàng tuần- Website văn học của Hội- Tin Hội viênCác tạp chí: Nhà văn, Thơ, Văn học nước ngoài,Hồn Việt- Thành lập Hãng phim Hội Nhà văn Việt Nam, Trung tâm Quyền tác giả văn học Việt Nam9. Mở rộng giao lưu văn học với nớc ngoài, tiếp cận đời sống văn học và tinh hoa của các nền văn học trên thế giới.+ Chưa bao giờ số lượng sách dịch lại đa dạng và phong phú như hiện nay.+ Khôi phục quan hệ với các đối tác truyền thống, và thiết lập quan hệ văn học với các nư ớc trên thế giới.+ Với Nga và các nước Đông Âu+ Trung Quốc, Ấn Độ và các nước trong khối ASEAN. Tham gia giải thưởng văn học Đông Nam Á hàng năm do Thái Lan tổ chức+ Thiết lập quan hệ với các nhà văn từng tham chiến Ở Việt Nam:Hoa Kỳ, Hàn Quốc.+ Tổ chức thành công Hội nghị Giới thiệu văn học lần thứ 2. Liên hoan thơ Châu Á  Thái Bình Dương lần thứ nhất.+ Sáng kiến tổ chức Hội nghị nhà văn ba nớc Đông Dương và trao giải văn học Sông Mê Kông+ Bằng mọi hình thức tổ chức cho nhà văn đi giao lu trao đổi văn hoá với nước ngoài

III. NHỮNG HẠN CHẾ VÀ YẾU KÉM CẦN SỚM ĐƯỢC ĐIỀU CHỈNH KHẮC PHỤC1 Về sáng tác+Văn học những năm qua đợc nhất là đa dạng, yếu nhất là kết tinh.+ Xóa nhòa ranh giới chiến tranh chính nghĩa và phi nghĩa. Biến cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc kỳ vĩ thành một cuộc nội chiến nồi da náu thịt. Chối bỏ chiến tranh, bội bạc với quá khứ.+ Nhấn mạnh một chiều hy sinh, mất mát, không thấy hết sự tích phi thường và những tấm gương cao đẹp của chủ nghĩa anh hùng vô tình sa vào sơ lược, một chiều, phiến diện cực đoan mới.+ Giải thiêng lịch sử, giải thiêng anh hùng, xuyên tạc bóp méo lịch sử dân tộc. Không tính đến quan điểm lịch sử trong khi đánh giá lại quá khứ.+ Khuyến khích văn học ngày thường, dè bỉu cái cao cả, vô tình hạ thấp phẩm hạnh và chiều kích con ngư-

Page 29: Tieu Thuyet Nong Thon

ời.+ Khai thác phiến diện và cực đoan những yểu tố bản năng; sex, tình dục, tình yêu thân xác được cổ suý ồn ào.- Rút lui vào cá nhân, ích kỷ, tuyệt đối hoá hình thức, biến tác phẩmvăn học thành trò chơi ngôn ngữ, bịt kín mối giao cảm với người đọc, đánh mất công chúng.- Cá biệt có trường hợp quay lưng lại với cuộc sống dân tộc, hằn học, phỉ báng dân tộc, xúc phạm đến các giá trị thiêng liêng của dân tộc- Tình trạng phổ biến hiện nay là sàn sàn, trung bình, quen tay, dẫn đến tình trạng nghiệp dư hoá văn học.2. Về lý luận phê bình, phê bình+ Tiếp thu, phổ biến quảng báo ồn ào một số quan điểm nghệ thuật của nước ngoài, thiếu phân tích làm rõ hay dở, vô tình làm bản sao của người khác.+ Chưa xây dựng được hệ giá trị mới, dẫn đến lệch chuẩn lạc chuẩn, hỗn loạn thước đo và chuẩn mực+ Phê bình không bao quát được tình hình sáng tác. Thành kiến, phân biệt đối xử, chỉ đọc một số đối tư-ợng, tác giả phù hợp với sở thích của mình, dù có non yếu cũng không tiếc đắp đầy những lời khen. Ngược lại bỏ qua, xem thường những nhà văn lớp trước, không đọc, không tìm hiểu, định kiến sẵn đã già thì đi liền với bảo thủ, lạc hậu. Các ý kiến về đổi gác, bàn giao thế hệ là vô cùng xa lạ đối với đời sống văn học.+ Xuất phát từ một số lý thuyết khung có sẵn, chăm chăm tìm đọc các tác phẩm xem có phù hợp với cái khung đó hay không, biến phê bình văn học với biết bao công phu, tinh tế thành những thao tác cơ giới, gò gẫm, giả tạo, nghèo nàn.+ Thiếu thẳng thắn, thiếu dũng cảm đưa ra các lời chê, né tránh, cầu an, tìm lời khen để vui lòng người mà cũng yên thân. Có nghịch lý là ai cũng bảo hiếm tác phẩm hay nhưng trên mặt báo lại ngập tràn những lời khen.- Trình độ chuyên môn sâu về sáng tác và bị hạn chế. Nhà phê bình chưa hiểu hết quy luật của sáng tác, gửi gắm của nhà văn. Cho nên họ chê và khen, nhà văn chưa phục, chưa đắc ý. Thiếu tri ân, tri kỷ giữa sáng tác và phê bình.

IV. NGUYÊN NHÂN CỦA THIẾU SÓT, YẾU KÉM- Thời đã khác, người đã khác. Sự chuyển đổi các giá trị chi phối, thẩm thấu vào mọi ngõ ngách, mọi lĩnh vực. Thay đổi nhận thức, thói quen để bắt kịp với cái mới cũng cần phải có thời gian.- Đội ngũ làm công tác lý luận phê bình chưa được đào tạo chuyên sâu; Hội cũng chưa tạo điều kiện nhiều cho họ hiểu biết tình hình văn học và lao động nhà văn.- Các nhà sáng tác nhìn chung cha theo kịp với đời sống, chưa hiếu được bản chất những thay đổi chưa từng có đang diễn ra. Lớp già chủ yếu trở lại với hai cuộc kháng chiến và đề tài lịch sử. Lớp trẻ thì chủ yếu đi vào đời sống ngày hôm nay nhưng còn khá tản mạn.- Nền tảng văn hoá còn thấp. Xuất hiện thì loé sáng nhưng sớm lặp lại mình và lặp lại người khác. Dễ dãi, vừa lòng với các giá trị trung bình, chạy theo số lượng.- Tác động của thị trường là vô cùng tinh vi và mạnh mẽ. Trong khi đó nhuận bút thấp, đời sống khó khăn, không có đủ điểu kiện để làm lâu, làm kỹ các sản phẩm tinh thần.- Văn hoá đọc bị lấn sân. Thị trường sách bị co hẹp chưa từng có.

V. PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN VĂN HỌC NHỮNG NĂM TRƯỚC MẮT.- Kiên định mục tiêu phấn đấu để có nhiều tác phẩm hay, kết tinh đẹp đẽ con người và thời đại.- Tìm mọi cách để giúp nhà văn đi vào đời sống, để hiểu đời và hiểu người. Tuỳ theo đối tượng mà có cách đi khác nhau. Mục tiêu là phải cập nhật được những thông tin từ đời sống. Đi vào đời sống là bí quyết để nuôi dưỡng tài năng, tạo điều kiện để tài năng phát triển.- Tiến hành nhiều sinh hoạt nghiệp vụ, nhà văn phải được thông tin mới nhất về mọi trào lưu văn học trên thế giới.- Đổi mới công tác hỗ trợ sáng tạo, khắc phục tình trạng bình quân, có chính sách để người giỏi được quan tâm thích đáng.- Nâng cao chất lượng giải thởng hàng năm.- Cải tiến công tác kết nạp hội viên mới.- Đặc biệt quan tâm đội ngũ lý luận phê bình nhất là lớp trẻ. Tạo điều kiện để họ gần với Hội, gần với nhà văn, gần với đời sống văn học. Phải cải tiến công tác Ban Nhà văn Trẻ.- Nâng cao chất lượng các cơ quan báo chí, xuất bản của Hội. Phấn đấu xây dựng các cơ quan này là các cơ quan có đẳng cấp về văn học.- Duy trì các cuộc Liên hoan thơ Châu Á -Thái Bình Dương, các Hội nghị quảng bá văn học, trao đổi đoàn thăm lẫn nhau. Thành lập Trung tâm Dịch thuật văn học. Đẩy mạnh việc giới thiệu văn học Việt Nam ra thế giới.

Hà Nội 2/7/2012  Hữu Thỉnh

Page 30: Tieu Thuyet Nong Thon

Gs Phong Lê: Nông thôn và người nông dân trong văn học Việt Nam thế kỷ xxĐăng ngày 19/06/2012 trong mục Học Văn, Ngẫm nghĩ, Nhàn đàm Văn chương Lượt xem: 172 lần5

Giáo sư Phong Lê

1. Thế kỷ XX ở Việt Nam là thế kỷ có quá nhiều sự kiện kỳ vĩ và diễn biến cực kỳ nhanh gấp theo gia tốc lớn của lịch sử, gần như là từng thập niên một. Chưa có thế kỷ nào trong lịch sử dân tộc, thậm chí ngay cả nhiều thế kỷ trong lịch sử gộp lại có thể sánh với nó.

Ở thời điểm hôm nay – năm 2011, mà nhìn ngược lên đầu thế kỷ XX, chúng ta đã có một tầm nhìn thật khoáng đãng để nhận chân và đánh giá đúng gương mặt lịch sử, trên hành trình hơn một trăm năm, qua các chặng của nó. Tầm nhìn chúng ta không còn bị án ngữ bởi các sự kiện, dẫu có là sự kiện “long trời lở đất” đến mấy, kể từ 1945, qua 1954, 1975 cho đến 1986… Bây giờ là lúc, với tầm nhìn ấy, với khoảng cách ấy, chúng ta có thể đánh giá được và đúng và sau những gì đã diễn ra trong lịch sử và lịch sử văn chương – học thuật dân tộc.2. Trên các kết quả của cách mạng hóa và hiện đại hóa đã được thực hiện từ trước 1945, chúng ta đã gặt hái được một mùa văn chương ngoạn mục 1930-1945. Trên cả ba dòng văn học: cách mạng, hiện thực và lãng mạn thì dòng văn học hiện thực đã ghi được những thành tựu lớn, những dấu ấn quan trọng trên bức tranh về đời sống nông thôn và người nông dân, qua đóng góp xuất sắc của các tác giả như Hồ Biểu Chánh (1885-1958), Ngô Tất Tố (1893-1954), Trần Tiêu (1900-1954), Nguyễn Công Hoan (1903-1977), Mạnh Phú Tư (1913-1959). Nam Cao (1915-1951), Bùi Hiển (1919-2008), Kim Lân (1920-2007), Tô Hoài (sinh 1920)…Để đến được với các tác giả và tác phẩm đỉnh cao như trên, trào lưu hiện thực đã trải qua một lịch sử trên dưới 30 năm, qua ba phương thức tiếp cận:

Page 31: Tieu Thuyet Nong Thon

- Tiếp cận đạo đức, luân lý- Tiếp cận giai cấp, xã hội- Tiếp cận tâm lý, phong tụcNhiều chục năm trước đây ta chỉ biểu dương và đánh giá rất cao cách tiếp cận giai cấp, xã hội với những tác phẩm tiêu biểu như Tắt đèn, Bước đường cùng, Chí Phèo… bây giờ cần phải thấy là cả ba đều có đóng góp, và phải tiếp nhận cả ba phương thức mới có một gương mặt đầy đủ về văn học đề tài nông thôn và người nông dân Việt Nam trong lịch sử.3. Từ sau 1945, Việt Nam buộc phải chấp nhận hai cuộc chiến tranh kéo dài 30 năm, và ngay trong chiến tranh vẫn phải xây dựng một xã hội mới theo mô hình dân chủ và tiến lên chủ nghĩa xã hội, trong đó nông dân chiếm 90% dân số, và nông thôn là hậu phương lớn cho tiền tuyến; người nông dân là đội quân chủ lực của cách mạng. Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người. Một cuộc chiến tranh nhân dân, tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng, tất nhiên nhân vật chính phải là người nông dân, và người lính chủ yếu là người nông dân mặc áo lính.Một đội ngũ những người viết thuộc thế hệ trước và sau 1945 đã chọn người nông dân làm nhân vật trung tâm, với phẩm chất cơ bản là lòng yêu nước, là tình làng – nước. Phẩm chất đó đã được ghi nhận khá sớm trong Làng của Kim Lân, Đánh trận giặc lúa của Bùi Hiển, Con trâu của Nguyễn Văn Bổng… Còn trong Hà Nội bị tạm chiếm, Ngọc Giao lại có một cách khắc họa khác về thân phận người nông dân như trong Đất, Xã Bèo người của đất.Từ 1945, người nông dân, sau khi được cách mạng giải phóng, thoát khỏi kiếp sống nô lệ, được hưởng những thành quả cơ bản của cách mạng là ruộng đất. Và không lâu sau lại chuyển thành tài sản chung trong phong trào hợp tác hóa, nhằm xây dựng chủ nghĩa xã hội ngay trong cả thời chiến. Tất cả những bước chuyển đó trong số phận người nông dân tập thể với ý thức tôn vinh lợi ích chung – lợi ích cộng đồng, và với một viễn cảnh có thể hình dung được qua các khuôn mẫu lớn như Đất vỡ hoang của M. Solokhov, Mùa gặt của Nicolaêva (Liên Xô)…Một đội ngũ người viết thuộc thế hệ sau 1945 như Nguyễn Văn Bổng (1921-2001), Chu Văn (1922-1994), Nguyễn Địch Dũng (1925-1993), Đào Vũ (1927-2005), Ngô Ngọc Bội (sinh 1929), Nguyễn Thế Phương (1930-1989), Nguyễn Khải (1930-2008), Vũ Thị Thường (sinh 1930), Nguyễn Kiên (1935), Nguyễn Hữu Nhàn (1938), Nguyễn Thị Ngọc Tú (1942), với các tác phẩm xuất hiện chủ yếu từ giữa những năm 50 đến nửa đầu những năm 80 – là lực lượng đối diện với hiện thực này.Nhìn tổng thể, phương thức tiếp cận và xử lý đề tài nông thôn qua tất cả các tên tuổi trong đội ngũ trên là phương thức hiện thực xã hội chủ nghĩa. Tức là nhìn cuộc sống trong yêu cầu khẳng định cái mới – gồm cuộc sống mới – con người mới; và trong ý thức đấu tranh cho sự chiến thắng của hệ ý thức xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội… trong một thế giới chia làm hai phe, tồn tại từ giữa thế kỷ XX cho đến 1990, khi Liên Xô và hệ thống xã hội chủ nghĩa Đông Âu tan vỡ.Đây là một từ trường lớn, một áp lực lớn mà không người viết nào, dù có sáng suốt và dũng cảm đến mấy có thể thoát ra được.Nguyễn Khải từng được tiếng là nhà văn sắc sảo trong việc phát hiện những mặt trái, mặt khuất tối của cuộc sống như trong Xung đột, Tầm nhìn xa, Chủ tịch huyện… thế mà cũng phải chờ đến năm 1987, khi tâm sự về cái thời lãng mạn của mình mới nói ra được cái điều hẳn từ lâu ông biết cách đào sâu chôn chặt rằng: phải có sự nghiệp Đổi mới do Đảng

Page 32: Tieu Thuyet Nong Thon

khởi xướng thì văn học mới được cởi trói và tự cởi trói. Vì chúng ta không có quyền phê bình một chủ trương, một chính sách trước khi Đảng tự nhận cần phải sửa đổi. Sai thì cùng sai, đúng thì cùng đúng, tác phẩm văn học đã mất dần cái khả năng phát hiện, dự báo, đã xa cách hoặc đi ngược lại nhân tâm, dùng cái văn chương phù phiếm để che đậy lên bao điều giả dối*.Diện mạo và thành tựu văn học về đề tài nông thôn trong giai đoạn này được ghi nhận trên ba cách tiếp cận:- Trên tinh thần tin tưởng tuyệt đối vào đường lối cách mạng và đường lối văn nghệ của Đảng – đó là những tác phẩm có giá trị minh chứng và khẳng định con đường phát triển đi lên của hiện thực thông qua các sự kiện lớn, và cũng là những đảo lộn lớn trong sinh hoạt xã hội, và thân phận con người, như Cải cách ruộng đất, Sửa sai, rồi Hợp tác hóa từ bậc thấp lên bậc cao…- Trên tinh thần tôn trọng sự thật và sự nhạy cảm trước những vấn đề nảy sinh trong hiện thực, một số người viết đã có sự dũng cảm nhất định trong việc phát hiện những mặt tối hoặc bất ổn của đời sống; và không ít người trong họ đã phải chịu “tai nạn nghề nghiệp”.- Cùng viết về nông thôn, nhưng hướng triển khai không phải là cách mạng quan hệ sản xuất, là đấu tranh giai cấp, là con đường xây dựng xã hội chủ nghĩa… mà là tạo dựng bức tranh hậu phương lớn của tiền tuyến, là quan hệ giữa “người ra trận” và “người ở nhà”… như trong Cửa sông của Nguyễn Minh Châu, Người cửa sông của Đào Vũ, Vùng quê yên tĩnh của Nguyễn Kiên…Nhìn chung, từ 1945 đến đầu những năm 80, hai đề tài lớn, bao trùm văn học miền Bắc là chiến tranh và nông thôn, cả hai cùng xen cài vào nhau, trong đó nông thôn và người nông dân vẫn có sức thu hút lớn những cây bút thuộc thế hệ thứ hai, như đã kể trên, trong đó Chu Văn là một gương mặt nổi bật với hai tập Bão biển…Ở khoảng lùi hôm nay nhìn lại, dễ nhận thấy những mặt bất cập trong nhận thức hiện thực ở vùng đề tài này – nhưng vẫn có thể nhận ra không ít những băn khoăn, trăn trở, ở một số người viết luôn khao khát đến với sự thật đích thực. Và những gì không thực hiện được trước 1980, họ sẽ gắng công điều chỉnh từ đầu những năm 80 cùng với một thế hệ chuyển nối – kể từ Nguyễn Mạnh Tuấn, Ma Văn Kháng, Lê Lựu đến Nguyễn Khắc Trường, Dương Hướng, Đào Thắng, Hoàng Minh Tường, Vũ Huy Anh, Hoàng Đình Quang… Để có Cù lao Tràm, Mưa mùa hạ, Thời xa vắng, Mảnh đất lắm người nhiều ma, Bến không chồng, Dòng sông mía, Gia phả của đất, Trăm năm thoáng chốc, Cánh đồng lưu lạc… Từ đây, bức tranh nông thôn Việt Nam qua tất cả những đảo lộn lớn kể từ Cách mạng tháng Tám đến Cải cách ruộng đất và sửa sai; từ Hợp tác hóa đến Khoán hộ sẽ được đặt lại trong một nhận thức mới và tư duy phản biện, có chỗ dựa vững chắc là hai phương châm lớn của Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986: “Lấy dân làm gốc” và “Nhìn thẳng v ào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”.4. Từ Đổi mới đến nay là chặng thứ tư trong hành trình viết về nông thôn và người nông dân Việt Nam, đã dần dần xuất hiện một bức tranh nông thôn mới và khác trước. Đó là nông thôn thời hậu chiến; nông thôn trong và sau sự thực thi một mô hình sai lạc về phát triển xã hội; nông thôn trong các quan hệ làng xã, gia tộc, dòng họ; nông thôn với sự bảo lưu hoặc thay đổi các tập quán, phong tục… Cuối cùng, hoặc bao trùm, đó là nông thôn trong guồng chuyển đô thị hóa khi đất nước bước vào thời kỳ hội nhập, mở cửa. Và đây mới là chất liệu chính, là miền đất hứa cực kỳ hấp dẫn cho tiểu thuyết, bởi nó như là sự trở lại trên một quy mô và tầm vóc lớn hơn nhiều những thành tựu đã được ghi nhận trong văn học hiện thực và hiện thực xã hội chủ nghĩa trước và sau 1945.

Page 33: Tieu Thuyet Nong Thon

Thế nhưng vấn đề đặt ra là rất đáng quan tâm ở đây là: Nếu ở các giai đoạn trước, văn học Việt Nam đã có mấy thế hệ người viết tương xứng để gánh vác vai trò lịch sử – kể từ Hồ Biếu Chánh, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Kim Lân… qua Chu Văn, Nguyễn Khải, Đào Vũ, Nguyễn Kiên, Ngô Ngọc Bội, Nguyễn Thị Ngọc Tú… đến Ma Văn Kháng, Lê Lựu, Nguyễn Khắc Trường, Dương Hướng, Đào Thắng, Hoàng Minh Tường… thì với giai đoạn lịch sử mới này, cho đến nay lại chưa thấy sự xuất hiện một tên tuổi nào nổi bật, càng chưa có một đội ngũ. Vậy những ai là người có đủ sức vóc, tiềm năng và hứng thú để gánh vác trách nhiệm này? Nếu có, họ đang ở đâu?Nhìn vào các mùa gặt lớn đã qua, thấy đội ngũ viết bao giờ cũng thực hiện được trách nhiệm lịch sử của mình ở lứa tuổi 20 đến 30, rộng ra một chút là ở tuổi trên dưới 40. Và như vậy, lực lượng đáng tin cậy cho giai đoạn mới này phải từ lứa tuổi 7X trở đi.5. Cuối cùng, điều tôi muốn nói, đó là: trong cuộc Toàn cầu hóa lần thứ ba bắt đầu từ năm 2000** mà Việt Nam có cơ hội tham gia trong tư thế chủ động, chúng ta càng cần một tầm nhìn xa, để thấy trong xã hội hiện đại sẽ không còn người nông dân, theo cách hiểu cũ – như là một trong bộ tứ – tứ dân: Sỹ, nông, công, thương, với gương mặt và vị thế không đổi trong hàng ngàn năm qua: “Nhất sỹ nhì nông. Hết gạo chạy rông. Nhất nông nhì sĩ”. Bởi cấu trúc của xã hội hiện đại trong sự phát triển hoàn chỉnh của nó sẽ chỉ còn 5 thành phần. Đó là: lớp người hoạt động chính trị; lớp người quản lý hành chính; các doanh nhân trên các lĩnh vực sản xuất và lưu thông; các tầng lớp trí thức; người lao động có kỹ năng nghề nghiệp. Người “nông dân” hoặc có “gốc gác nông thôn”, tôi tin rồi sẽ có mặt trong cả 5 thành phần. Tất nhiên để đến với cái đích ấy, đối với đất nước chúng ta, còn là cả một thời gian dài.Tất cả những gì văn học hiện đại đã ghi nhận được về nông thôn và người nông dân Việt Nam, trong hơn 1 thế kỷ qua, gồm cả những phản ánh sắc nét, hoặc sơ lược với cảm hứng đa chiều hoặc một chiều, đều cần và đều có ích cho chúng ta, và các thế hệ mai sau, để nhận lại gương mặt và hành trình lịch sử của dân tộc, một dân tộc nông dân, như cách Marx từng nói về mối quan hệ giữa các dân tộc trong thời hiện đại và thế giới hiện đại.GS. Phong Lê—————-(*) Văn nghệ số 43 và 44; 10-1987(**) Theo các giới khoa học phương Tây thì cuộc Toàn cầu hóa lần thứ nhất bắt đầu từ năm 1492 là năm Christophe Colombus phát hiện ra c hâu Mỹ cho đến 1800-11 năm sau Cách mạng tư sản Pháp 1789. Cuộc thứ hai, từ 1800-2000 cũng 11 năm sau sự kiện bức tường Berlin sụp đổ 1989 – xóa bỏ tình thế thế giới chia thành 2 phe.

Nguồn vanchuongplus

CHỦ NGHĨA MARX VÀ CÁCH MẠNG VÔ SẢN VIỆT NAM

 

 

Page 34: Tieu Thuyet Nong Thon

Lữ Phương

 

7.  Việt Nam “Đổi Mới”: 1979-1986 

 

1989 là thời điểm quan trọng đối với lịch sử Việt Nam từ sau ngày 30.4.1975. Tháng 12.1986, đường lối “đổi mới” do Đại hội lần thứ VI của Đảng cộng sản Việt Nam phát khởi đã tạo ra một bước ngoặt mà ba năm sau đó (Hội nghị Trung Ương 6, khóa VI, tháng 9.1989) đã chuyển hẳn nền kinh tế Việt Nam từ chế độ “quan liêu bao cấp” sang cơ chế thị trường, và đường lối đó vẫn được tiếp tục duy trì đến nay. Nhưng những người nghiên cứu đã tìm thấy một thời điểm trước đó cũng không kém phần quan trọng: đó là Hội nghị Trung ương 6, khóa IV, tháng 9-1979 (sau đó thể hiện bằng Chỉ thị 100 của Ban bí thư về khoán nông nghiệp và Quyết định 25/CP của Hội đồng Bộ trưởng về quản lý công nghiệp – cả hai đều xuất hiện vào năm 1981) cho phép phá vỡ một phần những ràng buộc khe khắt của mô hình cũ để “bung ra” sản xuất. Tính chất “đổi mới” thể hiện trong hai thời điểm ấy đã được những nhà nghiên cứu chú trọng đặc biệt đến khía cạnh kinh tế của chúng. Vấn đề đặt ra về phương diện lịch sử là phải giải thích ra sao về mối quan hệ của chúng, là xét xem cái lô gích phát triển từ thời điểm này sang thời điểm kia là gì. Trong khi đi tìm tài liệu tham khảo, tôi đã gặp hai cách trả lời dường như phổ biến – và hai cách trả lời ấy đều không thuần túy giới hạn trong những bàn luận kinh tế không thôi.

Đối với những nhà lý luận lấy nguồn cảm hứng từ sự giải thích chính thống của Đảng thì khoảng thời gian từ 1979 đến 1989 (đi qua 1986) là “ quá trình đổi mới tư duy” của Đảng về mặt kinh tế, cụ thể là hình thành ngày càng hoàn thiện luận điểm “phát triển kinh tế hàng hóa để đi lên chủ nghĩa xã hội” [1]. Cách giải thích này đã dựa vào tiền đề giáo khoa “cách mạng vô sản”: vận dụng một cách sáng tạo những nguyên lý khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin vào những hoàn cảnh cụ thể, và trong trường hợp mà chúng ta đang bàn luận, theo cách diễn tả của một tác giả Việt Nam, là “bắt chủ nghĩa tư bản phải phục vụ chủ nghĩa xã hội, bắt nhà tư bản phải cày trên mảnh đất vô sản” [2]. Nghĩa là thay vì thực hiện những nguyên lý trước đây gọi là “khoa học” như nắm vững chuyên chính vô sản để biến toàn bộ xã hội thành một công trường [3] thì ngày nay người ta vẫn có thể nắm vững chuyên chính vô sản – có thể nói nhè nhẹ mấy chữ này đi một chút [4] – để làm kinh tế tư bản chủ nghĩa, cũng một cách “khoa học” không kém gì. Tác dụng biện hộ về mặt ý thức hệ cho sự cầm

Page 35: Tieu Thuyet Nong Thon

quyền độc tôn của một đảng là điều quá hiển nhiên, nhưng đứng về mặt nghiên cứu thì sự đóng góp lại chẳng có gì đáng kể.

Đối với những bài viết của những nhà nghiên cứu độc lập thì tất nhiên những giới hạn trên không có. Nhưng rất tiếc, do không thừa hưởng được những công trình nghiêm chỉnh trước đó (vì chưa có) nên về tài liệu lẫn luận giải đã không tránh khỏi ít nhiều bị ảnh hưởng bởi xu hướng quan phương nói trên. Và điều này thì cũng chẳng có gì là khó hiểu: trong khi những công trình độc lập trong nước hoàn toàn hầu như con số không [5] thì giới nghiên cứu Việt Nam ở ngoài nước cũng chỉ mới bắt đầu lại khoảng vài ba năm nay, và những người thật sự quan tâm cũng lại thường là những giới có liên hệ trực tiếp đến “đổi mới” (những chuyên viên cải cách kinh tế, những người đầu tư, ngoại giao...). Tuy thế do truyền thống nghiên cứu khách quan (những người Mácxít trước thường gọi là “khách quan tư sản”) nên các vấn đề nêu ra là khá phong phú và thường có ý nghĩa gợi mở hơn là khép lại bằng những định kiến ý thức hệ [6], dù rằng trong quá trình trao đổi không phải là đã không có những gặp gỡ chung trong nhận định. Thí dụ như ý kiến cho rằng rõ ràng là từ 1989, Việt Nam đã chuyển hẳn sang kinh tế thị trường một cách đồng bộ, “trọn gói”, và như vậy cũng giả định đã có sự tiến triển liên tục về mặt thừa kế những yếu tố “kinh nghiệm” giữa cái giả định bắt đầu và cái giả định kết thúc. Và thí dụ như ý kiến (đi ngược lại với quan phương) cho rằng “thời kỳ quá độ” [7] ấy đã chấm dứt vào năm 1989 rồi và do đó những cải cách đã “vượt xa khỏi khuôn khổ đổi mới xã hội chủ nghĩa” [8]. Rõ rệt mấy chữ “kinh tế thị trường” ở đây, trong quan niệm của những chuyên viên ấy, chỉ có nghĩa là một cơ chế tổ chức sản xuất chung nhất, chẳng dính dáng gì đến cái gọi là “thị trường xã hội chủ nghĩa” hay “theo định hướng xã hội chủ nghĩa” cả!

Tuy vậy sự nhất trí ấy không phải là nhiều lắm, bởi vì liền sau đó thì hàng loạt những câu hỏi cũng được đặt ra, đặc biệt những câu hỏi xoay quanh mối quan hệ giữa “đổi mới kinh tế” với “đổi mới chính trị” chẳng hạn:

– Thực chất của những cải cách thời “bung ra” 1979 là gì? Đó có thể gọi được là công việc “vừa làm vừa rút kinh nghiệm” dẫn đến kết quả cho Đại hội VI 1986 (và cả cho hôm nay) hay không [9] khi mà vào những năm đầu của thập kỷ 80, trong khi những “kinh nghiệm” thực tế đã khá đầy đủ để từ bỏ nhanh chóng mô hình cũ thì chiều hướng chính trị lúc ấy lại vẫn loay hoay trong bảo thủ [10] làm cho một dân tộc không kém năng động phí phạm đi mất 10 năm chậm trễ [11].

– Cuộc cải cách 1986 tuy có quan trọng thật nhưng quan trọng như thế nào khi mà “hoạt động của nền kinh tế Việt Nam lúc bấy giờ vẫn không chứng minh được cải cách” – “một thứ thị trường không đồng nghĩa với thị trường thực sự và có hiệu quả” [12]– và như thế “động lực của các cải cách năm 1986

Page 36: Tieu Thuyet Nong Thon

là gì và tại sao nó vẫn được tiếp tục mặc dù có những kết quả không mấy gì làm phấn khởi” [13].

Những câu hỏi trên đây đáng chú ý là vì không phải chúng chỉ ra những khoảng tối trong lịch sử để người ta rọi sáng mà còn có vẻ như muốn đụng chạm đến bản thân cái phương pháp truy tầm lịch sử trong những cách thức nhìn nhận như đã nói trên nữa. Thí dụ như liệu người ta có thể tách rời vấn đề kinh tế ra, phân tích mọi khía cạnh rồi sau đó mới bàn luận đến những ý nghĩa chính trị hay văn hóa của nó như trong một số công trình [14] hay là ngược lại phải tìm hiểu những đổi mới kinh tế trong cái tổng thể mà những người chủ xướng đã đề xuất từ đầu? Vấn đề rõ rệt đã trở thành vấn đề tiếp cận quá trình đổi mới ở Việt Nam xét như một dự phóng toàn diện. Chúng tôi cho rằng phân tích các hiện tượng kinh tế theo tính chất riêng biệt của chúng trong mục đích phục vụ những cải cách kinh tế xét như những chính sách, biện pháp là hoàn toàn cần thiết. Nhưng đứng từ một cái nhìn lịch sử xét như những tổng thể thì bản thân vấn đề kinh tế không bao giờ đơn thuần là nó mà còn là cái định chế xã hội trên đó nó tồn tại và cũng là cái ý thức hệ biện minh cho sự tồn tại đó. Vì vậy nếu không đặt những cải cách ấy vào sự chuyển động của chế độ cộng sản và cái ý thức hệ mácxít của Đảng cộng sản Việt Nam thì người ta không thể nào hiểu  được thực chất của những cải cách kinh tế ấy. Chúng ta đừng quên rằng những Nghị quyết mà chúng ta đã nhắc đến và sẽ còn nhắc đến (như Nghị quyết Trung ương 6, tháng 9-1979 hoặc Nghị quyết Đại hội VI, tháng 12-1986) vấn đề kinh tế tuy quan trọng nhưng không bao giờ đặt ra một cách riêng rẽ cả.

 Phương pháp mà chúng tôi đề nghị sử dụng là phải tìm hiểu vấn đề đổi mới ở Việt như một ý thức hệ đổi mới của Đảng cộng sản Việt Nam trước những tình thế không thể không đổi mới. Những nhân tố chủ quan trong bản thân sự lãnh đạo của Đảng (học thuyết Mác-Lênin, cơ chế phê bình tự phê bình, truyền thống yêu nước, não trạng cách mạng vô sản, tổ chức tập trung dân chủ...) sẽ được quan tâm đồng thời với những nhân tố khách quan thúc đẩy sự chuyển động trong Đảng (những đổi thay của thế giới, tác động của “phe” xã hội chủ nghĩa, sự phản ứng của dân chúng, sự phân hóa trong Đảng...), tất cả sẽ dẫn đến việc tìm hiểu sự tác động qua lại hết sức phức tạp của những nhân tố ấy, cuối cùng dẫn đến việc giải đáp cho những câu hỏi mà chúng tôi cho là cực kỳ quan trọng sau đây: động lực thật sự của những người lãnh đạo là gì khi họ chấp nhận cuộc chơi mệnh danh là “đổi mới”, trong chừng mực nào họ có thái độ “lắng nghe” cuộc sống và trong chừng mực nào họ phải phóng theo ngọn lao mà họ đã ném ra không cưỡng lại được? Xoay quanh hai thời điểm 1979 và 1986 để phân tích, chúng tôi hy vọng có thể tìm ra được câu trả lời cho vấn đề trên đây.

 

Page 37: Tieu Thuyet Nong Thon

Giấc mộng vàng và đà trượt của cuộc chiến tranhViệc chấm dứt chiến tranh năm 1975 đối với những người lãnh đạo cộng

sản Việt Nam là bước đột biến chưa từng có trong lịch sử để đất nước chuyển hẳn sang một trang mới hoàn toàn. Không phải vì Việt Nam đã thống nhất, độc lập để phát triển (điều này đã quá muộn) mà là độc lập, thống nhất để phát triển một cách vô cùng rực rỡ dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản với học thuyết Mác-Lênin vạn năng: Việt Nam sẽ mau chóng trở thành một quốc gia hiện đại, hùng cường, văn minh không những giữ được vai trò làm “tiền đồn” cho phe xã hội chủ nghĩa ở Đông Nam Á mà còn là hình mẫu về phát triển hết sức hài hòa tốt đẹp để các nước thứ ba noi gương nữa [15]. Và bí quyết của sự thành công đó cũng được các nhà lãnh đạo Đảng nói ra nhiều lần, ngay cả trong những ngày chưa chấm dứt chiến tranh [16], bằng công thức: Đảng lãnh đạo với chủ nghĩa Mác-Lênin, cộng với chủ nghĩa anh hùng cách mạng của nhân dân, cộng với khoa học kỹ thuật hiện đại (sẽ học tập của thế giới). Đại hội Đảng lần thứ IV (tháng 12-1976) đã mở ra triển vọng ấy trong khí thế chiến thắng “ngất trời” và lòng tin mãnh liệt vào tương lai (ông Lê Duẩn thường dự đoán trong khoảng 15 năm thôi).

Chúng ta nên đặc biệt lưu ý đến cái không khí ấy bởi vì tất cả đường lối “cách mạng” của Việt Nam trong thời kỳ mới sẽ được đặt trên cơ sở đó, trong một thời gian khá dài [17]. Về mặt đối ngoại, Đảng sẽ tiếp tục chủ trương “độc lập tự chủ” của mình, không những tranh thủ những thuận lợi của “bạn bè” để xây dựng mà còn phất cao ngọn cờ cộng sản chân chính đế chống lại mọi thứ chủ nghĩa xét lại, từ tả sang hữu, lôi cuốn Đông Dương vào một khối thân hữu chặt chẽ với Việt Nam, làm bàn đạp phát triển phong trào chống đế quốc ở Đông Nam Á. Còn về mặt xây dựng trong nước thì cái khí thế chiến thắng đã biểu hiện ở chỗ áp dụng trên cả đất nước đã thống nhất cái mô hình nửa Stalinit, nửa Maoit đã từng áp dụng ở miền Bắc sau 1954, lý do: đó là một mô hình đã được thử thách trong chiến tranh, đã tạo ra được “tính ưu việt và sức mạnh của chủ nghĩa xã hội”, “đã từng làm cho miền Bắc giữ được nhiệm vụ quyết định đối với sự phát triển của toàn bộ phong trào cách mạng ở Việt Nam” [18].

Trong chừng mực nào những ý tưởng trên đây là thực tế và trong chừng mực nào chúng tỏ ra quá “tếu” thì không phải đợi những người viết sử sau này thẩm định mà chỉ vài năm sau đó thôi mọi việc cũng đã bắt đầu lộ rõ. Bởi vì cũng chỉ một vài năm sau đó, tất cả những gì được hình dung ra một cách vô cùng tươi đẹp, hào hứng thì đều phát triển theo chiều hướng ngược lại, chẳng những không có đủ gạo ăn, thuốc uống mà còn đưa đất nước vào tình trạng tồi tệ cùng cực trên tất cả mọi phương diện. Tất nhiên những người lãnh đạo trong những trường hợp như thế bao giờ cũng tìm cách giải thích để biện minh cho lấy được sự lãnh đạo “tài tình” của mình. Nhưng điều đó đã chứng tỏ là không

Page 38: Tieu Thuyet Nong Thon

đúng và về sau chính họ cũng phải phần nào thừa nhận, bởi vì tất cả đã bị chi phối bởi cái não trạng đặc biệt do cuộc chiến thắng 1975 mang đến – ngạo mạn vì thắng lợi, say sưa với thắng lợi cho nên đã tự nâng mình lên quá xa vời cái tầm mà mình đang có. Thái độ ấy đã bị đánh trả trên tất cả các lĩnh vực.

Trước hết là về đường lối “cách mạng thế giới”. Ai cũng biết rằng trong chiến tranh, những người lãnh đạo cộng sản Việt Nam đã gặp nhiều khó khăn giữa sự giằng xé của các thế lực cộng sản quốc tế, đặc biệt về sau này với sự căng thẳng tột độ giữa Trung Quốc và Liên Xô: có lúc đã theo Liên Xô để chủ trương đường lối hòa bình (sau 1954), có lúc chống Liên Xô theo Trung Quốc để giải phóng miền Nam bằng bạo lực (sau 1960), có lúc hòa dịu lại với Liên Xô thì lại bắt đầu căng thẳng với Trung Quốc (sau Hiệp định Paris về Việt Nam). Tuy vậy do phải tập trung vào chiến tranh nên họ đã không đẩy những bất đồng đến chỗ rạn nứt. Nhưng khi đã thắng lợi rồi, tự tin quá mức vào uy tín cách mạng của mình [19], hy vọng sớm chiều có thể trở thành cường quốc, họ không cần phải theo đuổi chính sách cân bằng trên đây nữa. Với Hiệp ước hữu nghị 25 với Liên Xô (1978) mà tinh thần của nó là “hợp tác toàn diện”, Việt Nam đã ra mặt chống lại Trung Quốc. Kết quả của thái độ ấy như thế nào mọi người còn nhớ: muốn làm “tiền đồn” cho phe chủ nghĩa xã hội chống đế quốc, Việt Nam đã trở thành tiền đồn của phe Liên Xô để chống Trung Quốc, đưa đất nước vào một cuộc chiến tranh mới mà sự xâm lấn Kampuchia 1978 và nhân “bài học” của Trung Quốc ở biên giới phía Bắc 1979 là kết quả. Những sự việc không thuận lợi gì cho phát triển đó đã được những người lãnh đạo gọi là một “sứ mệnh lịch sử”, nhưng trong thực tế đó chỉ là cái đà trượt của một cuộc chiến tranh vừa nóng vừa lạnh mà các phe liên hệ chưa tìm ra được giải pháp căn bản để giải quyết đến nơi đến chốn. Vì thế tuy đã thắng lợi hoàn toàn (cưỡng lại nhiều lần sự sắp xếp của những cường quốc), Việt Nam vẫn còn phải trả giá cho sự thắng lợi ấy.

Cái đà trượt ấy nếu đã gây ra những điều kiện bất ổn cho xây dựng (bị cô lập hoàn toàn) thì ở trong nước cái mô hình xây dựng mệnh danh là “chủ nghĩa xã hội” cũng không hề mang lại được chút kết quả nào. Đó chỉ là con đẻ của chiến tranh, nó theo con đường ủng hộ cuộc chiến tranh ấy của “phe” xã hội chủ nghĩa mà du nhập vào Việt Nam, hết Stalin, Mao Trạch Đông rồi đến Brejnev. Khi đem cái mô hình ấy ra xây dựng, nó không chứng tỏ một tí gì là “ưu việt”. Thực hiện ở một đất nước nghèo nàn, lạc hậu, lại diễn ra trong điều kiện mà người dân luôn luôn phải thắt lưng buộc bụng hy sinh, nhiều lắm nó chỉ là một thứ sản xuất tự túc để thích ứng với chiến tranh, tất cả đều được “kế hoạch hóa” trên những gì mà “bầu bạn” đã viện trợ để tiếp tục cuộc chiến tranh ấy, nó không thể là một hình mẫu để thúc đẩy sự phát triển đưa xã hội vào thế giới hiện đại. Người ta thường nhắc đến Kim Ngọc, bí thư tỉnh Vĩnh Phú ở miền Bắc trước 1970 đã bị phê phán và trừng trị thích đáng vì đã dám qua mặt

Page 39: Tieu Thuyet Nong Thon

Trung ương cho phép “khoán chui” với lý do: “nếu cứ xây dựng chủ nghĩa xã hội kiểu này thì cháo cũng không có mà ăn”! Đối với những người lãnh đạo, thật ra không phải họ không thấy tính chất khó nuốt của cục xương gọi là “xây dựng chủ nghĩa xã hội” đó – ít nhất rất khó thuyết phục người dân hy sinh cho nó một cách dễ dàng như trong chiến tranh. Nhưng do lù mù lâu ngày trong cái đám lý luận sơ khai về cái “thiên đường hạ giới” gắn chặt với chiến tranh, lại nhờ nó mà lấy được chính quyền, không thể hình dung ra một con đường nào khác hay hơn, họ cứ phải bám vào đó, ngoài việc sơn cho nó những lớp sơn huyễn hoặc, họ còn thường xuyên khai thác lòng yêu nước của người dân để giúp nó thêm động lực .[20]

Khi được bê nguyên xi vào áp dụng ở miền Nam Việt Nam sau khi thắng lợi hoàn toàn, cái mô hình đó lập tức đã phát huy ngay sức mạnh tàn phá của nó đối với tất cả những thành quả mà miền Nam đã đạt được trong suốt quá trình công nghiệp hóa (dù còn ở bước đầu) và hiện đại hóa. Chỉ còn vài năm, bắt đầu là “tiếp quản” rồi sau đó là “cải tạo” tư sản ở thành phố, “hợp tác hóa” ở nông thôn, đời sống người dân đã bị đẩy lùi lại tình trạng trước đó khoảng vài ba chục năm, khốn khổ như chưa bao giờ đã xảy ra, dưới chế độ phong kiến, thực dân. Nền sản xuất hàng hóa mở rộng đã bị phá vụn thành những khu vực nhỏ bé, chiếm lĩnh bởi những cái gọi là “ngành” hay “lãnh thổ”; bất cứ cơ quan nào hay địa phương nào (kể cả xã, ấp) cũng có thể lập ra các hàng rào, trạm gác để chặn xe cộ lại xét hỏi, tịch thu, đánh thuế; còn nếu có gì gọi được là sản xuất thì cũng chỉ là những phong trào vận động ồ ạt người ta đi “lao động xã hội chủ nghĩa” (đắp mương, làm thủy lợi...) hoặc rủ nhau đi ra khỏi thành phố xin đất để làm rẫy kiểu “tự túc” như thời kháng chiến trong rừng, tốn không biết bao xăng nhớt, thì giờ mà kết quả chẳng đi đến đâu [21]. Còn những chương trình gọi là “kinh tế mới”, giãn dân về các miền nông thôn để sản xuất thì chỉ là  việc “đem con bỏ chợ”, đày đọa con người qua mọi khổ sở, cuối cùng không chịu nổi nên đã nhếch nhác kéo nhau về lại thành phố, ngủ đường ngủ chợ sau khi đã tán gia bại sản. Trong khi nông thôn trở về nền kinh tế tự cung tự cấp (thiếu máy móc, phân, giống) dưới danh nghĩa “tập đoàn” thì thành thị lại bị biến thành một thứ nông thôn lạc hậu, đi đâu cũng thấy người ta phá các luống hoa để trồng rau, còn nhà cửa thì hầu hết đều bị biến thành những chuồng heo, chuồng gà, chuồng thỏ nồng nặc mùi cám, mùi phân. Các công sở, vốn là chỗ làm việc trang nghiêm, cũng đã biến thành một thứ chợ nho nhỏ: cả ngày người ta chỉ lo mua bán, cung cấp xăng dầu, nhu yếu phẩm (một tí gạo, một tí xà phòng, cá, thịt...). Là một cái vựa thóc, trong những năm tháng ấy, người dân miền Nam đã phải ăn độn với khoai lang, khoai mì và khủng khiếp nhất là với cái gọi là... bobo do Liên Xô viện trợ.

 

Page 40: Tieu Thuyet Nong Thon

Từ sự phản ứng trong xã hội đến sự chuyển động trong Đảng

Sự phản ứng của xã hội đối với cái mô hình ấy là tất yếu: điều đó đã xảy ra từ lâu ở miền Bắc. Có điều gì cần nói thêm thì nên chú ý rằng cái phản ứng ấy đã diễn ra một cách khá đặc biệt mà chỉ có những người sống lâu năm trong chế độ cộng sản mới hiểu được: đó là thái độ hai mặt, bên ngoài thì vâng dạ, cảm ơn rối rít, nhưng trong lòng thì hoàn toàn nghĩ khác, trước mặt các “Anh”, các “Bác” thì ghi ghi chép chép tỏ vẻ “quán triệt” lắm nhưng về nhà thì lại làm ngược lại. Thái độ ấy thường bị xem là “tiêu cực”; nhưng đó chỉ là bước đầu – tất cả những thứ tệ hại khác như vô trách nhiệm, dối trá, báo cáo láo, trây lười... đều sẽ diễn ra tiếp theo. Thái độ ấy cũng tràn vào miền Nam sau 1975 một cách thật nhanh chóng: sau một thời ngắn ngủi “hồ hởi” đón chào “các anh”, đầu tiên người ta không biết làm gì hơn là “chà đồ nhôm”  (“chôm đồ nhà” – nói lái – đem đi bán ăn dần), nhưng sau đó người ta cũng phải làm một cái gì đó để tồn tại (“chẳng lẽ lại lăn ra mà chết”). Và làm gì để tồn tại trong một khung cảnh cực kỳ khó khăn như vậy thì chỉ có Trời mới biết thôi. Nhờ hàng của gia đình ở nước ngoài gửi về? Xếp hàng mua giá chính thức đem ra bán lại cao hơn để lấy lời? Ăn cắp mọi thứ có thể ăn cắp được (điện, thuốc, xăng dầu, hóa chất...)? Trốn thuế? Buôn lậu? Tất cả đều có thể. Và tất cả đều diễn ra trong mối quan hệ giữa dân và nhà nước, giữa cái không chính thức và cái chính thức. Và nói theo ngôn ngữ kinh tế thì đó là mối quan hệ giữa thị trường và thị trường đen. Khi thị trường có gì khiếm khuyết thì thị trường đen sẽ bổ sung vào; nhưng vì ở Việt Nam, theo lý luận về chủ nghĩa xã hội, thị trường không được thừa nhận một cách hợp pháp cho nên trong thực tế nếu có gọi được là thị trường thì chỉ có thị trường đen. Một mặt nếu nó giúp người ta tìm ra được những thứ cần dùng với một giá cao mà chỉ có những người buôn lậu mới cung cấp được, nếu nó góp phần lưu thông hàng hóa giữa vùng này sang vùng khác, giữa nông thôn và thành thị, thì mặt khác nó cũng tạo ra một cung cách làm ăn đặc biệt, là việc đục khoét, moi móc tất cả những gì có thể moi móc được trong kho nhà nước, trong thương nghiệp và xí nghiệp quốc doanh để đưa ra bổ sung cho thị trường đen; tham gia lối làm ăn này không phải chỉ có những “con phe” mà còn bao gồm cả chính những cán bộ cách mạng ở trong guồng máy nhà nước nữa.

Có lẽ cũng nên dừng lại một chút ở một loại thị trường đen khá đặc biệt vào lúc bấy giờ: đó là thị trường vượt biển (một hình thức tổ chức vượt biên bằng thuyền, phổ biến hơn những hình thức khác). Muốn tham gia thị trường này người mua lẫn người bán phải có một số tiền khá lớn (tính bằng vàng). Cùng với những chi phí bỏ ra để đóng thuyền và chạy những giấy má để làm bộ hành nghề với chiếc thuyền ấy (chuyên chở, đánh cá), giá các suất vượt biên còn tùy thuộc rất nhiều vào chi phí mà những người tổ chức phải trả cho những viên chức liên hệ (quân đội, công an, ủy ban nhân dân...) gọi là để “mua bãi”.

Page 41: Tieu Thuyet Nong Thon

Cuộc mua bán khá tấp nập một thời nếu đã phá tan tành không biết bao sự nghiệp, cướp đi không biết bao sinh mạng thì nó cũng đã làm xuất hiện một lớp “nhà giàu mới” với những cuộc ăn chơi cực kỳ xa hoa (chủ yếu đãi đằng các quan chức) trong khung cảnh nhếch nhác chung của xã hội. Tại sao người ta lại bỏ xứ ra đi với những phương tiện mong manh, nguy hiểm như vậy? Có thể là vì lý do chính trị, là kinh tế, là thấy người ta đi cũng đi theo... nhưng với lý do nào đi nữa thì điều đó cũng là lời tố cáo không thể biện minh được đối với một chế độ thường hay khoe khoang về tính “ưu việt” của mình. Nhưng nó cũng chứng tỏ cái phản ứng của người dân lúc bấy giờ là tuyệt vọng đến như thế nào trước một chế độ mà họ hầu như không còn tin được vào sự đổi thay. Có thể nói đó mới chính là cái kết quả tổng hợp nhất giải thích sự thất bại của tham vọng “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội” của Đảng; góp phần làm thất bại tham vọng ấy gồm đủ tất cả những nhân tố, từ sự trả đũa của Mỹ và Trung Quốc về màn sau của cuộc chiến tranh đến sự ngạo mạn của những người chiến thắng cuộc chiến tranh ấy, từ sự phá sản trên thực tế không gì biện minh được của cái mô hình “chủ nghĩa xã hội” hoang tưởng đến những vùng vẫy đau đớn của những người dân bị trị, và về sau còn có sự suy thoái ngày càng táo tợn của chính cái guồng máy nhà nước thống trị nữa.

Những sự tệ hại nói trên đã tác động gì đến hàng ngũ những người lãnh đạo vào những năm tháng ấy khiến họ phải quyết định điều chỉnh đường lối? Về mặt này nếu ai có được những kinh nghiệm trực tiếp thì đều thấy rằng, ngoại trừ một số dường như chìm đắm trong những cơn mộng du, phần đông những đảng viên có liên hệ với thực tế đều bất mãn trước những gì xảy ra – ít nhất thì những cảnh tượng ấy cũng đã đi ngược lại với những gì mà họ đã ý thức rõ ràng khi vào Đảng. Nhưng guồng máy tổ chức của Đảng không được lập ra để đề ra những thay đổi kịp thời trước những đòi hỏi thực tế: sự tồn tại của guồng máy là để thực hiện những nguyện vọng lâu dài, bền vững của nhân dân và điều này thì chỉ có được khi nhân dân biết nghe theo Đảng để “tiến lên” chủ nghĩa xã hội. Căn cứ vào đó, Đảng phải có nhiệm vụ “uốn nắn” lại những gì tự phát, giáo dục lại những gì lệch hướng trong nhân dân và cả trong đảng viên cán bộ. Guồng máy cầm quyền vì thế cũng phải được tổ chức một cách thật chặt chẽ để có thể thực hiện nhanh chóng câu “nhất hô bá ứng” trong lãnh đạo và chỉ đạo. Tuy thế nếu căn cứ vào lý thuyết mà hình dung guồng máy ấy như một cái gì đó thật sít sao, ăn khớp răm rắp như cái máy cái kéo theo hàng loạt những máy con thì lại là điều không thực tế. Bởi vì cái guồng máy ấy đã chứa trong bản thân nó những mâu thuẫn không bao giờ có thể giải quyết được.

Trước hết là mâu thuẫn giữa lý thuyết và thực hành. Trong lý luận về phát triển, chúng ta nên chú ý đến tính chất đặc biệt trong chủ nghĩa Mác, coi sự tăng trường kinh tế là quan trọng nhất, chỉ có giải quyết được một cách có hiệu quả thì mới có cơ sở để tạo nên những biến đổi trên mặt thượng tầng và ý

Page 42: Tieu Thuyet Nong Thon

thức. Tuy thế, với sự phát triển của Lênin đối với những nước chưa phát triển thì chính trị chính là khâu then chốt để xây dựng kinh tế: việc xây dựng ấy lại tỏ ra bất khả thi xét về lâu dài vì những biện pháp tập trung quá đáng, biểu hiện thành việc nhà nước khống chế toàn bộ đời sống kinh tế đã quay lại hủy diệt mọi động cơ phát triển. Chủ nghĩa tập thể ở đây, cùng đi chung với nó là sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất đã không thích hợp cho sự phát triển trong điều kiện xã hội đã vượt qua thời kỳ cách mạng để xây dựng trong hòa bình. Để duy trì được cuộc sống một cách tự nhiên, toàn bộ xã hội (kể cả trong Đảng), luôn luôn phải tìm cách leo lách để chống lại.

Một mâu thuẫn khác có ý nghĩa khá nghiêm trọng là mâu thuẫn giữa tập trung và dân chủ. Dân chủ là thừa nhận sự khác nhau của nhiều khuynh hướng, nhưng khi đã tập trung rồi thì những khác nhau ấy phải được giữ kín trong sự “bảo lưu”, không được truyền bá, không được nói ra. Điều đó nếu thích hợp với những hoạt động quân sự, cách mạng, chiến tranh thì lại hoàn toàn không mang đến hiệu quả trong những hoạt động kinh tế, văn hóa. Các tìm tòi về mặt khoa học và tư tưởng nếu không được tự do bộc lộ thì sẽ không tạo ra được không khí sáng tạo kích thích sự đổi mới liên tục. Do vậy các địa phương, cơ sở, các ngành nghề muốn có được những hậu quả tối thiểu trong hoạt động, trong khi bên ngoài vẫn làm ra vẻ tuân phục bên trên, trong thực tế đã phải tìm cách làm ngược lại, làm khác đi để tháo gỡ những khó khăn do cơ chế mệnh lệnh hành chính gò bó họ.

Những mâu thuẫn trên đây cho chúng ta thấy cái cơ chế tập trung đặc biệt cộng sản đã chứa trong bản thân những nhân tố làm vô hiệu hóa tính thống nhất của nó một cách dai dẳng: thay vì được bộc lộ ra ngoài để giải quyết nhanh chóng thì chúng lại luồn sâu vào trong làm cho nội bộ ngày càng ruỗng nát nhưng bên ngoài thì vẫn nguyên vẹn. Trong những trường hợp khủng hoảng thì những mâu thuẫn nội tại ấy sẽ tìm cách phá vỡ phần nào cái vỏ xơ cứng và bộc lộ ra bằng những hình thức mà người ta gọi là “xé rào”, “vô kỷ luật”, rất thường gặp trong cách nói năng, viết lách hoặc hành động không chịu theo những khuôn phép đã quy định. Thông thường những hành vi và lời nói như thế bao giờ cũng bị “phê phán”, trấn áp, nhưng sau đó thể nào cũng sẽ được đưa vào Nghị quyết mới, một phần nào đó và dưới một hình thức nào đó với tư cách là “tư duy của tập thể Đảng”. Cuộc vận động cải cách trong chế độ cộng sản vì thế bao giờ cũng chậm chạp và mang tính chất đấu tranh nội bộ rất gay gắt, nhiều khi đẫm máu.

 

Những hiện tượng xé rào Vào thời điểm 1979, chúng ta thấy cơ chế trên đây đã bị quy định bởi

một số tiền đề khách quan sau đây:

Page 43: Tieu Thuyet Nong Thon

– Chính sách trả đũa của Mỹ đã gây cho Việt Nam những khó khăn trầm trọng, nhưng xét về tác động thay đổi thì lại không có gì đáng kể – dù sao Mỹ cũng tàn phá không thương tiếc Việt Nam và đã thất bại về sự tàn phá đó. Những người Việt Nam sang Mỹ hoàn toàn có lý do để phất cao ngọn cờ “chống cộng” nhưng đối với suy nghĩ chung của người trong nước thì những người Việt Nam ấy đã trở nên những con người của quá khứ – họ cũng chỉ là sản phẩm thất bại của Mỹ. Hành động có ý nghĩa của những người trong nước (được Mỹ cổ vũ) là vượt biên, nhưng chúng ta đã biết, đó chỉ là những hành động tuyệt vọng, mặt khác nó tạo ra một tâm lý xì hơi, một lối thoát ở ngoài cho những khó khăn bên trong.

– Cuộc chiến tranh với Trung Quốc cũng có một tác động tương tự. Tuy có tác động phân hóa hàng ngũ Đảng, nhưng đặt vào truyền thống chống Bắc phương của người Việt Nam thì vẫn được xã hội tán đồng. Xét về một mặt khác, điều đó cũng lại là một kích thích mới cho những canh tân tư tưởng và văn hóa. Nương theo đường lối chống “bành trướng Bắc kinh”, những trí thức và văn nghệ sĩ đã đặt vấn đề chống chủ nghĩa Mao ở Việt Nam, hệ tư tưởng này đã đè nặng lên đời sống tinh thần của Việt Nam từ lâu, nay nhân có chiến tranh với Trung quốc, đã có dịp bùng ra [22].

– Việc Việt Nam ngả hẳn sang phía Liên Xô, trong bối cảnh ấy, đã có tác dụng thuận lợi cho xu hướng cải cách: trong sự giới hạn về tư duy lúc bấy giờ, dù sao chủ nghĩa xã hội thực hiện theo kiểu Liên Xô vẫn cởi mở hơn [23] và điều đó đã giả định một thứ mô hình “chủ nghĩa xã hội” chân chính nào đó mà người ta có thể “vận dụng”, noi theo. Có hiểu điều này chúng ta mới hiểu được cái hướng cải cách bấy giờ ở Việt Nam vẫn chưa thoát khỏi cái mà người ta gọi là những “điều chỉnh” hoặc những “cải cách xã hội chủ nghĩa”. Và đây chính là hợp điểm để các xu hướng khác nhau trong Đảng tạo ra được Nghị quyết tháng 9-1979.

Tất nhiên, như chúng ta đã biết, để có được quyết định công khai ấy, trong Đảng và xã hội đã diễn ra không ngừng những hoạt động tạo áp lực ngày càng mạnh mẽ mà chúng ta có thể kê ra một số hiện tượng đáng lưu ý như sau:

Về mặt kinh tế: Cùng với phản ứng tiêu cực của toàn bộ xã hội (lãn công, ăn cắp...) các hành động chống lại đường lối chung (kiểu Kim Ngọc ở Vĩnh Phú hồi thời còn chiến tranh) vẫn tiếp tục. Những gì xảy ra ở miền Nam đã biểu hiện được thành một phong trào có quy mô lớn, diễn ra công khai và được những người lãnh đạo địa phương ủng hộ lúc khởi đầu. Nhiều người đã viết về đề tài này, ở đây chúng tôi chỉ dẫn ra một số thí dụ được ông Nguyễn văn Linh, Bí thư thành ủy lúc bấy giờ xác nhận:

“... đầu năm 1979 (tôi nhấn mạnh, LP) đã xuất hiện một số mô hình tháo gỡ trong một số cơ sở sản xuất công nghiệp như Công ty bột giặt miền

Page 44: Tieu Thuyet Nong Thon

Nam, Xí nghiệp thuốc lá, Dược phẩm 2-9, Nhà máy bia Sài Gòn, Xí nghiệp Dược thú y, Xí nghiệp dệt Thành công, Phong phú, Phước Long, Thắng Lợi, Dệt Đay 13, Xí nghiệp cơ khí Caric, Silico, Vinappo, Sinco, v.v... Điển hình là Công ty bột giặt miền Nam đã tổ chức lại sản xuất, liên kết với nhiều tỉnh miền Tây và miền Trung khai thác nguyên liệu, trao đổi thành phẩm, xây dựng phương án sản xuất ngoài kế hoạch, pháp lệnh, nâng cao được thu nhập cho công nhân bằng áp dụng lương khoán, lương sản phẩm,vận dụng các chế độ thưởng linh hoạt hơn, giải quyết cho công nhân thêm cho nhiều mặt hàng ngoài 10 mặt hàng cung cấp theo định lượng, giải quyết bữa ăn...” [24].

Qua sự trình bày trên, người ta thấy nội dung “tháo gỡ” về mặt kinh tế đã mang ý nghĩa chống tập trung quá đáng theo mô hình “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” áp đặt vào miền Nam: đó chính là phản ứng tự nhiên của sản xuất muốn mở rộng, giao lưu, không chấp nhận đường lối bắt mọi thứ phải tập trung vào nhà nước. Đây chính là những cựa quậy ban đầu để dần dần tiến tới đòi quyền tự trị cho cơ sở được phát triển về sau. Chủ trương “tháo gỡ” này bắt đầu từ thành phố Hồ Chí Minh  đã mang ý nghĩa đặc biệt: nó xuất phát từ trung tâm kinh tế, văn hóa của một miền đất đã có truyền thống lâu năm về tiếp cận với những biến chuyển nhanh chóng của thế giới, đã từng một thời hội nhập với thế giới để phát triển.

Về mặt tư tưởng, nếp sống: Đồng thời với việc chống áp đặt kinh tế cũng đã xuất hiện xu hướng của những người tham gia cách mạng ở miền Nam, chống lại sự xâm nhập của lề lối quản lý mang từ miền Bắc vào đối với những vùng gọi là “mới giải phóng”. Vào lúc bấy giờ, đây là một hiện tượng đáng chú ý, đặc biệt với lệnh giải tán Trung ương cục R và sau đó không kèn không trống khai tử cái gọi là “Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam”. Tuy mang màu sắc “Bắc Nam” (vốn là vấn đề ngày càng tỏ ra giả tạo), nhưng bấy giờ ý nghĩa chính trị và tâm lý của sự phản ứng mang ý nghĩa văn hoá rõ rệt. Các hiện tượng sau đây có lẽ sẽ không bao giờ xóa được khỏi ký ức con người vào cái thời cực kỳ đen tối ấy: cùng với việc đi truy lùng, tịch thu (và cả phá phách) những thứ gọi là “chiến lợi phẩm”, người ta bắt đầu tiến hành những chiến dịch cải tạo rầm rộ như chặn đường cắt tóc, cắt quần thanh niên, chặn đường rút xăng trong xe gắn máy (để gọi là chống nguồn tiêu thụ xăng nhà nước), (có nơi) bắt xe đạp phải mang biển số, nhập kinh thánh vào hàng sách “đồi trụy và phản động” cần phải tịch thu... Tất cả đều nhân danh cho một cái gì đó gọi là “cách mạng”, “lành mạnh”, “tiến bộ” những mọi thứ đều tỏ ra kỳ quái đến chỗ khó tưởng tượng được.

Những người cầm bút ở miền Nam lúc bấy giờ (phần đông đều là những thành phần tham gia cách mạng “tại chỗ”) đã bày tỏ sự bất bình một cách công khai và gay gắt trong các cuộc họp hoặc trên báo chí. Nguyễn Trọng Văn (lúc

Page 45: Tieu Thuyet Nong Thon

bấy giờ ở Hội Trí thức yêu nước) đã phát biểu thẳng thừng rằng những hành vi trịch thượng, ngu dốt của những cán bộ luôn luôn gồng lập trường lên để dạy dỗ người khác đó chính là một thứ chuyên chính gọi là “chuyên chính vô học”. Tạp chí Đứng dậy của Nguyễn Ngọc Lan đã để hẵn một số đặc biệt [25] đả kích thái độ chụp mũ bừa bãi trong những cuốn sách, bài báo gọi là “phê phán văn hóa thực dân mới” nhưng nhìn đâu cũng thấy những “tàn dư” của “Mỹ Ngụy”, cố ý bôi nhọ cả một miền đất đã không ngừng biết giữ phẩm giá của mình trong những hoàn cảnh khắc nghiệt. Hiện tượng cán bộ Đảng biến chất, xa rời thực tế, xa rời nhân dân, đẩy đất nước vào nghèo khổ, lạc hậu cũng đã được báo Tin Sáng của Ngô Công Đức vạch ra trong mấy số [26]. Đó không phải là sự phê phán nhằm những sự kiện rời rạc mà còn muốn báo động với xã hội hiện tượng suy thoái của một đảng cách mạng khi bắt đầu nắm được chính quyền.

Những phê phán trên đây đã gây nên những phản ứng quyết liệt trong giới quan chức có nhiệm vụ gác cổng về mặt tư tưởng cho Đảng; tất cả đều đã bị kết án gay gắt như: “phản động”, “chống đảng một cách tinh vi” v.v...

Cũng về mặt văn hóa, vào lúc bấy giờ ở miền Bắc đã xảy ra hiện tượng chống chủ nghĩa Mao trong văn nghệ, mang tính lý luận mà ảnh hưởng của nó đã kéo dài mãi đến sau này.  Khởi đầu là bài viết của Hoàng Ngọc Hiến đăng trên báo Văn nghệ [27] để tiếp ngay sau đó là Đề cương đề dẫn về sáng tác văn học do Nguyên Ngọc [28] trình bày tại Hội nghị đảng viên tổ chức tại Hà Nội vào tháng 6-1979, cả hai đều thống nhất với nhau trên lập luận cho rằng phải đưa việc phê phán chủ nghĩa Mao trong lĩnh vực chính trị sang văn nghệ, phê phán luận điểm “văn chương phục vụ chính trị”, từ đó trả lại cho văn nghệ chức năng riêng biệt của nó là sáng tạo ra một thế giới có cá tính và tự do. Tất nhiên các bài viết này, xuất hiện vào lúc bấy giờ, vẫn chưa dám vượt khỏi ngưỡng cửa của đường lối chính thống, nó chỉ nhân danh đường lối ấy để chấn chỉnh những cái quá thô bạo; tuy vậy khi xuất hiện, chúng cũng bị những người lãnh đạo cao cấp coi là một thứ “tà khí” cùng với những thứ tà khí trước đó, góp phần “phủ định những thành tựu văn học trong chiến tranh”, và “dao động ngay trên những nguyên tắc cơ bản của nền văn nghệ hiện thực xã hội chủ nghĩa” [29].

Hiện tượng bị đả kích ấy thật ra quy mô không lớn lắm, sự phê phán không mang tính trực diện như những gì đã xảy ra trước đó (Nhân văn Giai phẩm) và sau đó (văn nghệ đổi mới sau 1986), nhưng sở dĩ nó làm cho những người lãnh đạo tức giận là do những thứ lý luận đó đang muốn đưa văn nghệ ra khỏi cái thân phận làm cần vụ cho chính trị, hoặc toan tính không thừa nhận tính chất “tuyệt vời” trong cái hiện thực “xã hội chủ nghĩa” do đảng tạo ra. Cùng với kinh tế, văn nghệ cũng đã góp phần tạo ra những áp lực buộc những người lãnh đạo phải điều chỉnh lại đường lối.

 

Page 46: Tieu Thuyet Nong Thon

Hội nghị Trung ương 6 (khóa IV, tháng 9-1979) Nghị quyết này có phần nói hẳn về kinh tế mang tên Về phương hướng

nhiệm vụ phát triển hàng công nghiệp tiêu dùng và công nghiệp địa phương nhưng có một phần khác toàn diện hơn gọi là Tình hình nhiệm vụ cấp bách [30], qua đó người ta thấy nổi bật lên mấy quan điểm nhận thức:

– Việc đánh giá tình hình đã trở nên thực tế ; đà trượt của chiến tranh cũng đã được tính đến (mất viện trợ Mỹ, chiến tranh biên giới) cùng với những hậu quả gay gắt (nạn thất nghiệp, đời sống sút kém...). Tiềm năng của miền Nam do Mỹ để lại có lúc được cán bộ “hồ hởi” đón nhận như là một thứ chiến lợi phẩm dùng đó làm bàn đạp tiến nhanh thì nay đã được đánh giá lại sau một thời gian làm cho thất thoát, hư hỏng.

– Việc đánh giá những sai lầm chủ quan của lãnh đạo cũng được đề cập thẳng thắn hơn: từ bệnh duy ý chí, muốn đốt giai đoạn, bất chất quy luật đến sự suy thoái của cán bộ và phương pháp quản lý thiếu hiệu lực đều được nêu ra. So với trước đây, đó là một bước tiến lớn vì đã phần nào đỡ huênh hoang hơn, đỡ ngạo mạn hơn.

Chính từ những đánh giá trên đây mà những biện pháp đưa ra cũng tỏ ra thiết thực hơn. Cùng với tư thế “sẵn sàng chiến đầu bảo vệ Tổ quốc” (chiến tranh với Trung Quốc), việc chống các hiện tượng tiêu cực (ăn cắp, hối lộ, ức hiếp quần chúng) cũng được đặt biệt nhấn mạnh bên cạnh nội dung chính yếu về kinh tế với một số điểm căn bản sau đây:

– Tháo gỡ một số hạn chế trong các chính sách, chế độ quản lý để các khu vực quốc doanh, tập thể, lưu thông phân phối “bung ra” hoạt động. Nhưng việc “bung ra” ấy, theo Nghị quyết thì phải có kế hoạch, chứ không muốn làm gì thì làm. Thực chất đây chỉ là những biện pháp gỡ bí, cho phép các cơ sở sản xuất tự xoay xở tìm nguyên liệu, vật tư, thị trường, vốn liếng để chấm dứt tình trạng nhà máy bị đóng cửa, công nhân không có việc làm, sản xuất bế tắc, đời sống thấp kém vốn là những hiện tượng phổ biến vào lúc bấy giờ.

– Cho phép những thành phần kinh tế ngoài quốc doanh và tập thể hoạt động gọi là để “tận dụng” mọi khả năng về lao động, kỹ thuật, vốn liếng, có lợi cho sản xuất. Biện pháp này không mới nhưng nay nhắc lại cũng là để gỡ bí phần nào cho sự thất bại quá rõ rệt của khu vực quốc doanh trong việc đáp ứng các nhu cầu thiết thực của xã hội. Cần chú ý là về mặt lý luận, những biện pháp này chỉ được chấp nhận trong thời kỳ quá độ, chứ không phải là vĩnh viễn. Vì thế ngay trong khi thừa nhận sự cần thiết của các thành phần tư nhân thì cũng chỉ trong lĩnh vực sản xuất thôi, hơn nữa chỉ cho phép những xí nghiệp loại nhỏ, vừa hoạt động chứ không phải là tất cả. Đặc biệt tư thương thì phải xóa bỏ. Nói chung nếu để cho các thành phần tư nhân, cá thể (gọi là phi xã hội chủ

Page 47: Tieu Thuyet Nong Thon

nghĩa) lấn áp, xói mòn những thành phần quốc doanh, tập thể (gọi là xã hội chủ nghĩa) là sai lầm về quan điểm.

– Những biện pháp trên đây đều dựa trên quan điểm lý luận về thời kỳ quá độ là vận dụng các quan hệ thị trường để bổ sung cho kế hoạch nhưng không để cho thị trường chi phối sản xuất một cách “tự phát” như trong chủ nghĩa tư bản, vì thế khi nói đến thị trường thì phải phân biệt thị trường có kế hoạch với thị trường ngoài kế hoạch để sử dụng cái thứ hai “bổ sung” cho cái thứ nhất. Còn cái gọi là “thị trường có kế hoạch” thì chỉ có nghĩa là để cho các cơ sở sản xuất quốc doanh tự xoay xở, tự kinh doanh theo cách thức của thị trường, có hạch toán lời lỗ chứ không hoàn toàn là mặt bằng thụ động, tùy thuộc vào cơ chế “giao nộp cấp phát” như cũ. Thị trường có kế hoạch chỉ là một cách diễn tả về mặt lý luận mấy chữ “kinh doanh xã hội chủ nghĩa” thôi: nó chỉ dừng lại ở chỗ trao đổi hàng hóa chứ chưa phải được quan niệm rộng rãi như hiện nay, ngoài thị trường hàng hóa còn có thị trường vốn, lao động, kỹ thuật...

Nghị quyết còn đề cập nhiều vấn đề khác (ngoại thương, quốc phòng, làm chủ tập thể...) nhưng trọng điểm của nó vẫn là kinh tế mà nội dung cốt lõi là hợp pháp hóa bằng cách đặt ra những giới hạn mang tính nguyên tắc để những hành động ấy không tái diễn nữa, hoặc không vượt qua. Theo ngôn ngữ của guồng máy, người ta gọi đó là “lãnh đạo”, nhưng thực tế chỉ có nghĩa là sau khi chạy theo sự kiện người ta liền gò các sự kiện ấy vào những định hướng mang tính ý thức hệ và kỷ luật của tổ chức. Đúng như Nghị quyết đã khẳng định: đó chỉ là một thứ nhiệm vụ “cấp bách” đưa ra để đối phó với tình hình đã bị đẩy tới chân tường.

Ý nghĩa đó của Nghị quyết tháng 9-1979 sẽ bộc lộ rõ hơn khi chúng ta đặt nó vào toàn bộ đường lối của đảng từ Đại hội IV (tháng 12-1976) đến cuối Đại hội V (cuối năm 1985) mà những nội dung sau đây là rất nhất quán:

– Trước sau vẫn coi Liên Xô là chỗ dựa vững chắc về mọi phương diện, cho nên những thay đổi về lý luận ở Liên Xô đều được giới thiệu, học tập ở Việt Nam. Trong khi đó thì Trung Quốc vẫn bị coi là kẻ thù “trực tiếp” lúc nào cũng phải chuẩn bị để đối phó. Do việc chiếm đóng Kampuchia kéo dài, Việt Nam tiếp tục bị cô lập trên thế giới, nên  dù được Liên Xô viện trợ, việc xây dựng trong nước vẫn tiếp tục bất lợi. Chỉ khi sau Đại hội VI một thời gian, mối quan hệ giữa Liên Xô với Trung Quốc trở nên hòa hoãn lại, Việt Nam chấp nhận rút quân khỏi Kampuchia thì mối quan hệ của Việt Nam với thế giới mới được cải thiện, có lợi cho xây dựng.

– Trong xây dựng, vẫn tiếp tục đi theo chiến lược đã vạch, dựa theo đường lối ngoại giao đã nói trên. Thân Liên Xô cho nên mọi chuyển động từ Liên Xô đều được giới thiệu, vì vậy mô hình Stalin cũng dần dà bị pha loãng

Page 48: Tieu Thuyet Nong Thon

bớt vào thời Brejnew; chống Trung Quốc nên việc chống chủ nghĩa Mao về mặt dân tộc (bành trướng) đã có ảnh hưởng gỡ bớt những phần khác của chủ nghĩa Mao đã xâm nhập vào Việt Nam trong thực tế. Tuy vậy, tất cả những thuộc tính của một thứ “chủ nghĩa xã hội” du nhập vào Việt Nam từ thời chiến tranh và bị cuộc chiến tranh khuôn nắn khá nặng nề thì vẫn giữ nguyên “truyền thống” của nó: ưu tiên phát triển công nghiệp nặng, công hữu về tư liệu sản xuất, chủ nghĩa tập thể, tập trung dân chủ, não trạng vô sản bần cố nông, tư duy làng xã xa lạ hoàn toàn với những biến đổi của thế giới. Chính những thuộc tính mang tính hầu như “bản chất” của Đảng cộng sản Việt Nam đã giải thích việc mặc dù đã có Hội nghị tháng 9-1979 với những tháo gỡ nào đó, sau đó liên tục người ta vẫn đặt vấn đề đẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa  hoặc thúc đẩy phải hoàn thành hợp tác hóa nông nghiệp vào năm 1985.

– Về mặt ý thức hệ thì đường lối trên đây càng rõ ràng hơn. Mặc dù đã có không ngớt những cựa quậy trong giới văn nghệ sĩ (đặc biệt trong giới làm văn học) đòi nới lỏng vòng kiểm soát của Đảng đối với tư tưởng, mặc dù mô hình “chủ nghĩa xã hội” nửa Stalin nửa Mao đã bị sự cọ xát giữa Liên Xô Trung Quốc làm bớt đi tính cực đoan, nhưng những nguyên lý sơ khai về “chủ nghĩa xã hội” đối với Đảng cộng sản Việt Nam, nhất là áp dụng vào lĩnh vực chính trị và văn hóa trong nước thì vẫn không hề suy xuyển. Tất cả những nỗ lực tìm tòi trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật, một phần nào triết học để làm cho những giáo điều cũ bớt thô thiển đi, mang được một phần nào hơi hướng mềm mỏng hơn, vẫn bị những người lãnh đạo liệt vào những thứ “xét lại”, “tư sản”, “tiểu tư sản” thù địch với hệ tư tưởng Mác-Lênin. Có thể thay đổi về cách làm kinh tế, có thể bắt tay cả với những kẻ thù về mặt chính trị, nhưng nhất quyết phải dập tắt từ trứng nước những xu hướng khác nhau nảy sinh trong nội bộ – truyền thống mang tính “quốc tế” này, những người lãnh đạo cộng sản Việt Nam không bao giờ quên.

Như vậy nếu đặt Nghị quyết tháng 9-1979 vào đường lối chung của Đại hội IV và V, chúng ta thấy những cái gọi là “đổi mới” ở đây chỉ có nghĩa là nhân nhượng chiến thuật, qua những nhân nhượng ấy, Đảng vẫn hy vọng bảo vệ được những nguyên lý gọi là “khoa học” của mình. Nhưng vấn đề không đơn giản. Những nhân nhượng ấy đưa ra trong tình thế mà sự khủng hoảng đã đi đến tột độ, tuy có “tháo gỡ” được cái ngòi nổ, nhưng lại không có tác dụng giữ nguyên được những nguyên lý ấy. Những mâu thuẫn căn bản trong guồng máy quản lý càng trở nên căng thẳng hơn: một bên là cái nhu cầu về hiện đại hóa của đất nước ngày càng trở nên bức bách, một bên là một quan niệm về tổ chức dựa trên một ý thức hệ ngày càng tỏ ra lạc hậu, lỗi thời. Những gì diễn ra sau Nghị quyết tháng 9-1979 cho mãi đến trước Đại hội VI tháng 12-1986 đã chứng minh cho điều đó.

 

Page 49: Tieu Thuyet Nong Thon

Ai thắng ai?

Chúng tôi có nhắc đến cuốn Thành phố Hồ Chí Minh 10 năm của ông Nguyễn Văn Linh với đoạn ông ca ngợi hết sức cái mô hình “bung ra” năm 1979, với  những bài học mà ông cho là sâu sắc giữa “cái mới và cái cũ”, giữa “tiến bộ và lạc hậu”, những bài học về “sức sống thường xuất hiện ở cơ sở”... và sau đó ông cũng đã ca ngợi hết mực Nghị quyết Trung ương 6 tháng 9-1979 tiếp đó là Quyết định 25/CP của Hội đồng Bộ trưởng năm 1981 về kế hoạch ba phần, trả lương khoán, lương sản phẩm trong xí nghiệp quốc doanh. Nhưng sau khi biểu dương như vậy trong chương “Phấn đấu giữ vững và phát triển vai trò trung tâm công nghiệp” của thành phố, thì khi sang chương gọi là “Cải tạo và tổ chức lại nền kinh tế”, ông đã làm cho người ta hết sức ngạc nhiên khi chính cái khoảng thời gian mà ông ca ngợi lại cũng là khoảng thời gian mà ông cho rằng “vì buông lỏng cải tạo” nên tình hình chủ nghĩa tư bản tự phát đã lan tràn thành những hiện tượng đáng lo ngại như sau:

Số hộ làm ăn phi pháp giàu lên khá nhanh, không phải từ sản xuất mà từ móc ngoặc, ăn cắp tài sản xã hội chủ nghĩa. Trong công nhân, cán bộ kỹ thuật và trong nông dân tập thể đều có hiện tượng chân ngoài dài hơn chân trong. Trong thương nghiệp xã hội chủ nghĩa có tệ nạn tuồn hàng cho tư thương, xu hướng chạy theo lợi nhuận, tranh mua tranh bán không phục vụ tốt sản xuất và đời sống... [31].

Qua đoạn trích dẫn trên, chúng ta thấy tính chất dữ dội đến như thế nào của cái mà ông Linh gọi là “chủ nghĩa tư bản tự phát”; đó không phải chỉ là những hành vi móc ngoặc trong giới tư thương (đối tượng của cải tạo xã hội chủ nghĩa) mà còn là cung cách “kinh doanh” của các giám đốc quốc doanh (cơ sở chủ đạo của nền kinh tế quốc dân), và cách thức nâng cao đời sống của thành phần “tiên tiến” của xã hội mới (công nhân, nông dân tập thể...). Như vậy vấn đề ở đây không còn là quyền sở hữu (công cộng hay không công cộng) mà chỉ là phương thức hoạt động, và trong cách đặt vấn đề của những người lãnh đạo Đảng thì lý tưởng nhất vẫn là làm sao “bung ra” mà vẫn là xã hội chủ nghĩa, vẫn cho thị trường hoạt động nhưng vẫn xỏ mũi nó được như con ngựa bị khống chế bởi anh nài. Lý thì như vậy nhưng thực tế thì lại không phải như thế: hễ cải tạo thì sẽ đưa chủ nghĩa xã hội vào bế tắc mà bung ra (mượn những phương pháp tư bản chủ nghĩa) thì sớm muốn chủ nghĩa xã hội cũng sẽ không còn là chủ nghĩa xã hội nữa. Và đó chính là cái nan giải trầm kha của mọi ý hướng cải cách kinh tế vẫn còn nằm trong vòng giới hạn gọi là “cải cách xã hội chủ nghĩa”. Chính vì đã phải nhân nhượng nhưng không muốn nhân nhượng nhiều hơn cho nên những người lãnh đạo Đảng mới liên tục, sau Nghị quyết tháng 9-1979, đưa ra những đợt “điều chỉnh” để gò các sự kiện vào những phạm trù ý thức hệ, không cho những sự kiện ấy đi sai đường.

Page 50: Tieu Thuyet Nong Thon

Người ta không quên được rằng chỉ sau Nghị quyết tháng 9-1979 một thời gian đã có rất nhiều đoàn thanh tra trung ương vào Sài Gòn xem người ta “bung ra” như thế nào. Và hầu hết đều cho rằng tình hình đã bắt đầu lộn xộn vì đã có nhiều dấu hiệu lệch lạc trầm trọng đến nỗi có một cán bộ cao cấp khi vừa đặt chân xuống sân bay đã “ngửi thấy ngay mùi Nam Tư rồi”. Người ta hiểu câu nói có nghĩa là gì: là những cuộc kiểm điểm liên tục sẽ được tổ chức để “uốn nắn” lại – thí dụ như cuộc “làm việc” của Trung ương với Thành ủy vào 1980 và Nghị quyết 1 của Bộ Chính trị về Thành phố Hồ Chí Minh (1982) ở đó người ta nhắc đi nhắc lại không ngớt những câu lập trường cực kỳ quan trọng như:

“buông lơi chuyên chính vô sản trên mặt trận lưu thông phân phối” hoặc “công tác cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với thương nghiệp, tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp và nông nghiệp chưa được tiến hành tích cực, đúng mức” [32].

Một trong những quyết định thường được nhắc tới để chứng minh cho sự chuyển động về quản lý đối với quốc doanh là Quyết định 25/CP của Hội đồng Bộ trưởng ban hành tháng 1-1981. Nhưng sau đó hơn một năm (tháng 8-1982) Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Quyết định 146/HĐBT phê phán mạnh mẽ một số xí nghiệp

“do thiên vị lợi ích tập thể và cá nhân người lao động mà có phần coi nhẹ lợi ích của nhà nước, chạy theo sản xuất phụ hơn là sản xuất chính, coi trọng kế hoạch tự làm hơn là kế hoạch do nhà nước giao. Thậm chí có nơi còn xà xẻo vật tư do nhà nước cung ứng để đưa sang phần tự làm hoặc sản xuất phụ; có nơi do việc sản phẩm và tiền mặt không được quản lý tốt, cho nên có hiện tượng phân phối nội bộ quá nhiều và tọa chi quá lớn” [33].

 Xu hướng “mánh mung” qua mặt sự kiểm soát của Trung ương nhân danh các lợi ích cục bộ, địa phương ở đây đã xuất phát từ chính những cơ quan nhà nước, coi như là sự đối phó của nhà nước với nhà nước, chứ không phải là ở nơi nào khác. Và những hiện tượng ấy cũng không còn có thể coi là “đặc sản” của miền Nam nữa: mặc dù đã bị chặn đứng ngay từ lúc mới manh nha, xu hướng đã ngày càng lan ra cả nước.

Vì thế sự phê phán của Trưng ương đối với hiện tượng như trên ngày càng trở nên gay gắt, thí dụ như trong Hội nghị Trung ương khóa V, tháng 6-1983. Với Hội nghị này, người ta không còn đả kích sự bung ra quá trớn nữa, không còn nói đến sự tự phát của chủ nghĩa tư bản nữa mà đã nói đến cái mất của chủ nghĩa xã hội, ngay tự cái nền móng tư tưởng của nó: đó chính là cái xu hướng chạy theo lợi ích kinh tế thuần túy mà “coi nhẹ hẳn vai trò của tư tưởng, của chính trị”, kết quả có thể

Page 51: Tieu Thuyet Nong Thon

“được về kinh tế, nhưng mất tư tưởng, được bộ phận nhưng mất toàn thể, được trước mắt nhưng mất lâu dài, được kết quả hiển nhiên, nhưng xa rời mục đích và những nguyên tắc cơ bản, được của cải, nhưng hỏng quan hệ sản xuất và con người” [34].

 Không có gì rõ ràng hơn những nhận định mang tính “báo động đỏ” nói trên của một người gác cổng tư tưởng cho Đảng: sự thành công làm người ta nô nức do sự nhân nhượng về chiến thuật đối với chủ nghĩa tư bản mà có, sự nhân nhượng ấy không những đã thay đổi được trong chừng mực nào đó cái mô hình gọi là “quan liêu bao cấp” trì trệ mà còn tích lũy tiềm năng để phá hủy đến tận nền tảng cái động lực làm nên chủ nghĩa xã hội nữa. Cái hậu quả của sự bung ra về kinh tế, mặt dù chưa phải triệt để như sau này, nhưng cũng đã có tác dụng về chính trị và văn hóa hết sức hiển nhiên: đó là sự phủ định hết sức tự nhiên (ngoài cả dự liệu và trong ý thức) đối với một thứ triết lý quản lý đời sống hoàn toàn xa rời thực tế.

Không ít nhà lý luận quan phương đã tỏ ra bồn chồn hơn vì dường như xung quanh họ đã bắt đầu có những vết đất lở dưới chân khi họ thấy những điều mà họ gọi là “sai lầm, lệch lạc” chống lại mãi mà vẫn không đè bẹp được chúng:

Điều đáng phàn nàn không phải là ở sự xuất hiện những lệch lạc, những sai lầm, vì trong những chuyển biến cách mạng không dễ gì tránh khỏi dao động, khuyết điểm; có sai thì sửa, có lao chao thì rút kinh nghiệm để vững bước đi tới. Điều đáng phàn nàn là tình hình không ổn định bị kéo dài, do sự buông lỏng đấu tranh. Không phải lần đầu tiên trong văn nghệ xuất hiện những khuynh hướng sai lầm, trong đội ngũ có dao động. Đã có những lúc nghiêm trọng như những năm 1956-1958; nhưng một khi có ý kiến của bộ phận lãnh đạo cao nhất của đảng, cuộc đấu tranh theo đó được tiến hành, đời sống văn nghệ mau chóng trở lại trật tự của nó. Mấy năm vừa qua tình hình không diễn ra như thế. Mặc dù đã có ý kiến lãnh đạo của lãnh đạo cao nhất của đảng, nhưng lệch lạc không được uốn nắn nghiêm túc, tình trạng mơ hồ, lởn vởn kéo dài. Ở văn học hiện tượng dao động xuất hiện trước tiên ở bộ phận lãnh đạo và trong lý luận phê bình. Nhân danh đổi mới, vươn tới những đỉnh cao, một số anh em có khuynh hướng phủ định những thành tựu văn học trong chiến tranh. Một số tác phẩm có vẻ triết lý “uyên thâm” nhưng mơ hồ về phương hướng nhuốm màu vị ngán ngẩm tiểu tư sản cũng xuất hiện. Tình hình tương tự cũng đã xảy ra ở các ngành nghệ thuật, tuy mức độ ở mỗi ngành không giống nhau [35].

Tính dai đẳng, khó “uốn nắn”, quy mô mở rộng đến nhiều lĩnh vực, nhiều hình thức – đặc biệt là hình thức tiếu lâm đen, xuất hiện trên đường phố, chợ búa, riêng tư, truyền nhau rỉ tai trong cơ quan, châm chích, trêu chọc sự

Page 52: Tieu Thuyet Nong Thon

ngu dốt, gàn bướng, ngạo mạn của tầng lớp lãnh đạo tham quyền cố vị [36] – đã chứng minh cho sự phá sản hầu như toàn diện của cái mô hình “truyền thống” về chủ nghĩa xã hội mà Đảng đã ra công xây dựng thành một thứ lý tưởng trong suốt một thời gian dài.

Rõ ràng là những nhân nhượng chiến thuật về kinh tế bung ra cuối cùng đã không mang lại những kết quả theo những định hướng của Đảng, trái lại chúng đã tạo ra những điều kiện thực tế để chính trị và văn hóa phát triển sức mạnh phê phán đặc biệt của mình. Đến cuối năm 1985, đất nước một lần lại rơi vào một khủng hoảng trầm trọng không kém gì năm 1979, chỉ có khác là lần này không có cuộc chiến tranh với Trung Quốc. Trước tình hình ấy, mọi sự tháo gỡ dường như không mang đến kết quả gì, vì nói như những người nghiên cứu, trong giới hạn của những tiền đề “cải cách” cũ, mọi cái cần làm thì người ta đã làm hết rồi và số phận của những cải cách ấy theo một nghĩa nào đó cũng không sáng sủa hơn những thí nghiệm đã có trước đó trên thế giới [37]. Cuộc cải cách giá, lương tiền, đem  ra thực hiện (Nghị quyết Trung ương 8, khóa V, tháng 6-1985), xuất phát từ ý định xóa bỏ đến tận gốc cơ chế quan liêu bao cấp để chuyển sang hạch toán kinh tế một cách triệt để (bỏ chế độ hai giá, chấm dứt bù lỗ, tăng giá, tăng lương, đổi tiền) [38], nhưng áp dụng không tính toán hết mọi mặt vào một nền kinh tế vốn đang yếu kém, nợ nần, mất cân đối, nó đã đưa nền kinh tế ấy vào “tình trạng hỗn loạn chưa từng thấy” [39]. Những sự kiện tệ hại ấy đã đóng vai trò gì cho cuộc “đổi mới” trong Đại hội VI của đảng vào tháng 12-1986?

 

Đại hội VI: ba bài học lớn trong nước Trước khi Đại hội diễn ra, trong một cuộc hội nghị cán bộ nghiên cứu dự

thảo “Báo cáo chính trị” (10-7-1986), ông Trường Chinh bấy giờ là tổng thư ký, thay ông Lê Duẫn vừa mất, đã trình bày ba bài học lớn rút ra từ hai Đại hội trước: lấy dân làm gốc, tôn trọng quy luật khách quan và xây dựng Đảng [40]. Tuy phân tích ra nhiều mặt để trình bày, nhưng rút lại tinh thần thì chỉ có một: trước những sai lầm nghiêm trọng đã qua, Đảng phải cương quyết “đổi mới tư duy” thì mong tìm được lối thoát cho những bế tắc, khủng hoảng toàn diện của đất nước. Mấy chữ “đổi mới” thật sự mang ý nghĩa cách tân là đã bắt đầu từ đó, và đã được phát triển trong nhiều lĩnh vực ở Đại hội VI, trong đó được tập trung nhiều nhất vẫn là lĩnh vực kinh tế.

Tuy vậy, trong lĩnh vực này, khi đem so sánh những gì đã trình bày ở Đại hội VI với những gì đã từng xảy ra (trong lý thuyết lẫn thực hành) trước đó, chúng ta lại không tìm thấy được điều gì thật sự mới mẻ hoàn toàn. Tất cả vẫn xoay quanh cái khái niệm hạt nhân gọi là “kinh doanh xã hội chủ nghĩa”, sử dụng tiền-hàng để bổ sung cho kế hoạch, thể hiện bằng chủ trương cho những

Page 53: Tieu Thuyet Nong Thon

cơ sở quốc doanh bung ra bằng hạch toán thị trường nhưng vẫn coi quốc doanh là thành phần chủ đạo trong toàn bộ cơ cấu kinh tế quốc dân (vẫn chiếm tỷ trọng bao trùm so với các thành phần tư bản tư nhân và cá thể). Còn những thành phần tư nhân, cá thể, tuy được phần nào tự do hơn trước (không bị chèn ép bởi những biện pháp hành chính) nhưng vẫn chỉ giới hạn trong một số khu vực nào đó, phụ thuộc vào nhà nước trong đó khu vực tư bản thương nghiệp vẫn là đối tượng cải tạo triệt để. Đường lối quản lý kinh tế của Đại hội VI nói tóm lại vẫn là đường lối quản lý “thời kỳ quá độ”, nghĩa là “quản lý có kế hoạch một nền kinh tế hàng hóa” trong đó việc sử dụng quan hệ hàng hóa-tiền tệ vẫn chỉ là “đặc trưng thứ hai” [41]. Tính chất liên tục, thừa kế những thành quả của những năm trước đó, trong lĩnh vực kinh tế, là quá rõ ràng, nếu không nói là vẫn cứ theo cái đà cũ mà đi, xét về mặt lý luận.

Vậy thì điều gì đã làm cho Đại hội VI được coi là “bước ngoặt” trong đời sống của đất nước từ sau ngày 30.4.1975? Những ai có theo dõi tình hình của Việt Nam qua Đại hội này đều cho rằng cái đáng chú ý nhất của nó không phải là kinh tế mà chính là cái không khí “dân chủ” chưa từng có từ trước tới nay: Đảng đã thừa nhận những sai lầm cũ của mình trong lãnh đạo xã hội, không phải trong những vấn đề chiến thuật mà là trong đường lối chiến lược và chỉ đạo chiến lược, cũng không phải trong một thời kỳ nào đó mà là suốt 10 năm qua – và điều sai lầm ấy cũng không có gì xa lạ nhưng ngày nay trong tình thế mới phải cương quyết nêu ra: đó là bệnh chủ quan nóng vội, dựa vào một số phạm trù giáo điều nào đó về “chủ nghĩa xã hội” để bắt buộc cuộc sống phải uốn theo, và do vậy trong tổ chức thực hiện đã hình thành nên một bộ máy quan liêu nặng nề, bất chấp thực tế khách quan, bất chấp trình độ của người dân, và do đó trong nhiều trường hợp đã trở thành bộ máy thống trị lại nhân dân, “đè đầu cưỡi cổ nhân dân”. Đổi mới tư duy là thật sự nghiêm chỉnh nhận khuyết điểm trước nhân dân về cái bệnh giáo điều, duy ý chí ấy để trở về với cung cách làm việc, suy nghĩ thiết thực, cởi mở, thẳng thắn hơn.

Cách diễn đạt của Nghị quyết, ngày nay nhìn lại thì thấy không có gì ghê gớm lắm, nhưng nếu nhớ lại thì người ta sẽ không thể nào quên được sự phấn khích mà nó gây ra trong điều kiện sống cực kỳ ngột ngạt, bưng bít, nhất là sau vụ “giá, lương, tiền” mới xảy ra trước đó không lâu. Điều đáng ghi nhận nhất là sau Đại hội, không khí ấy đã được sự “triển khai Nghị quyết” bốc lên rất mạnh với những bài viết, bài nói của ông Nguyễn văn Linh, Tổng bí thư Đảng được bầu trong Đại hội, kêu gọi báo chí lao vào những vùng cấm, lôi ra trước ánh sáng những cái tiêu cực, tồi tệ cản trở con đường phát triển của đất nước. Giới trí thức văn nghệ sĩ thì lại không thể nào quên được bài nói của ông vào tháng 10-1987 ở Hà Nội khi ông kêu gọi anh em hãy “tự cứu mình trước khi trời cứu”, “tự cởi trói mình” để nói lên sự thật một cách thẳng thắn, còn nếu vì lý do gì mà không sử dụng ngòi bút thì thà im lặng hơn là bẻ cong nó... [42]. Điều ấy

Page 54: Tieu Thuyet Nong Thon

không có nghĩa gì khác hơn là một bức thông điệp về tự do cho trí thức và văn nghệ sĩ. Không khí ấy càng trở nên mãnh liệt hơn khi Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị về văn hóa văn nghệ [43] xuất hiện vào cuối năm 1987 khẳng định chính sách “tự do” ấy từ đó đã làm bốc lên một phong trào báo chí [44] phê phán vô cùng mạnh mẽ các mặt tiêu cực của cơ chế cũ. Hình ảnh những “con người mới” được thứ văn chương nhà nước thổi phồng lên thành những anh hùng làm mẫu cho cuộc sống, nay đối diện với chính cuộc sống đã trở thành những nhân vật không có nhân cách, ích kỷ, ác độc, cuồng tín, nguyên nhân gây ra đổ vỡ, bất hạnh cho người khác – những nhân vật ấy có thể tìm thấy trong mọi lĩnh vực, từ những cán bộ thời cải cách ruộng đất đến những thứ “cường hào mới” ngày nay. Những cảnh sống tầm thường nhỏ mọn, câm nín, thấp kém một cách vô liêm sỉ, bị chế độ làm cho tha hóa nhưng vẫn chìm đắm trong thỏa mãn, vô ý thức, những điều đó cũng đã được phơi bày lạnh lùng, không thương tiếc: huyền thoại về cái cao cả, anh hùng, biểu hiện trong thực tại hay trong lịch sử cũng đã bị đưa xuống mặt đất để bộc lộ hết thực chất của nó. Có thể gọi đó chính là văn học của thức tỉnh, văn học của sự phản kháng; nó tạo nên một thế giới mà cấu trúc là sự giả trá, lừa mị, chỉ có thể được đưa vào nghệ thuật như những hình ảnh phản diện thôi.

Thời gian của những sáng tác như vậy cũng là thời gian của lý luận từ bỏ thái độ minh họa, biện hộ để nhìn thẳng vào thực tại.  Trong văn nghệ, điều đó đã biểu hiện trong những cuộc bút chiến tranh luận gay gắt về chức năng của văn nghệ trong sự nghiệp “đổi mới” cuộc sống, về mối quan hệ giữa chính trị và tác phẩm, về việc đánh giá lại toàn bộ những cái đã qua trong quá khứ... tất cả đều toát ra cái không khí gay gắt phê phán những quan niệm hay biện pháp lãnh đạo văn nghệ một cách tùy tiện, hẹp hòi, không luật pháp. Khí thế ấy còn trở nên mạnh bạo hơn rất nhiều trong những cuộc nói chuyện nội bộ hoặc trong những cuộc hội thảo, đặc biệt những cuộc thảo luận về đề tài “đổi mới xã hội chủ nghĩa”. Ở đây ngoài những khuyết điểm hoặc “tồn tại” được nhắc đến như “chuyện thường ngày ở huyện”, người ta đã nói nhiều đến tình trạng “khủng hoảng trầm trọng và toàn diện” không phải của mô hình gọi là “chủ nghĩa xã hội hiện thực” mà còn đụng đến cả học thuyết Mác với những phần không thích hợp của nó nữa. Vấn đề đổi mới trong hướng đặt vấn đề đó rõ ràng không còn phải là “điều chỉnh”, “sửa đổi” mà thực chất là một cuộc cách mạng mới [45]. Khủng hoảng về học thuyết chứ không phải chỉ là những khó khăn về kinh tế; sai lầm toàn diện chứ không phải là “vấp váp” trong “vận dụng” – đó quả thật là những cú đấm gây choáng váng cho cái cung cách tư duy cổ lỗ của giai tầng lãnh đạo Việt Nam.

Có điều ghi nhận là những phê phán ấy, trong sự giới hạn của tình hình lúc bấy giờ, tuy mạnh mẽ và gay gắt là thế, nhưng chưa hề đẩy đến tận cùng cái lôgích tất yếu của chúng như những gì mà số nhà trí thức đã làm sau Đại hội

Page 55: Tieu Thuyet Nong Thon

VII, phê phán trực tiếp đến tính chất bất khả thi của “chủ nghĩa xã hội mácxít” [46]: chúng vẫn nằm trong giới hạn của một thứ chủ nghĩa xã hội lý tưởng, một thứ giá trị có thể dựa vào để phê phán những mô hình “biến dạng”, sai lầm. Trung tâm vấn đề đặt ra chỉ là “nhận thức lại chủ nghĩa xã hội”, tìm cho chủ nghĩa xã hội một tinh thần mới nhân đạo hơn, dân chủ hơn, trung thành với Mác hơn. Riêng trong lĩnh vực kinh tế thì việc trở lại với chính sách kinh tế mới (NEP) của Lênin đã được nhiều nhà lý luận vận dụng để giải thích những biến đổi mang tính tư bản chủ nghĩa của đổi mới trong đó luận điểm về một thứ “chủ nghĩa tư bản nhà nước” đã được khai thác nhiều nhất [47]; đây cũng lại là một điều mới vì trước đây (1979) ông Lê Duẫn đã từng tuyên bố: “chúng ta không làm NEP” [48].

Dù thế nào đi nữa thì trên phương diện văn hóa, tất cả những gì đã nói trên, so với những gì trước đó, đã là những điều đầy hào hứng, mới mẻ thật sự. Chính cái không khí ấy đã mở lại cho xã hội một thứ hy vọng nào đó về một cuộc sống “khác hơn”, điều mà người ta tưởng như đã tắt ngấm từ lâu trong cái bóng đêm của chế độ “toàn trị” [49]. Hình ảnh một đảng cộng sản hẹp hòi, ngạo mạn và hoang tưởng cũng dường như được xóa bỏ để nhường chỗ cho một đảng cộng sản mới thực tế, cởi mở, dân chủ hơn. Liệu những hy vọng này một lần nữa lại có phải là một ảo tưởng hay không thì chỉ ít lâu sau đó mới có câu  trả lời, nhưng vào lúc bấy giờ dường như không ai đặt ra câu hỏi ấy, mặc dù trong nỗi vui thích của mình người ta vẫn chưa thật yên tâm. Khá nhiều người đã cảm nhận một cái gì đó hơi đột ngột đã xảy ra cho cuộc sống, một cái gì đó không xuất phát thật sự từ cái lôgích nội tại của đất nước, một cái gì đó đã đi xa hơn những gì mà Đảng cộng sản Việt Nam đã tích lũy được trong quá trình xây dựng của mình về các mặt ý thức hệ, tổ chức, con người. Ông Đặng Quốc Bảo, vào năm 1988, lúc còn Trưởng Ban khoa giáo Trung ương, nói chuyện tại Ban khoa giáo Thành ủy (ngày 26-5-1988), đã nhắc đến một bản dự thảo Báo cáo chính trị chuẩn bị cho Đại hội VI chứa đầy những thứ mà ông cho là bảo thủ, thỏa hiệp, không thể chấp nhận được – vậy mà chỉ ba tháng sau đó, qua sự làm việc của những trợ lý, cố vấn, một dự thảo mới đã xuất hiện (và đã được trình bày ở Đại hội) với một nội dung mà mọi người đều biết. Thật là tuyệt vời! – ông Bảo đã nói thế! Đúng là tuyệt vời! Chỉ trong vòng ba tháng, cả tư duy của một tập thể lãnh đạo đã chuyển động nhanh chóng và sâu sắc – đó chính là điều dường như chưa từng có ở Việt Nam: so với kinh tế thì chính trị lần này đã đi trước hơn rất nhiều. Truyền thống ý thức hệ của Đảng cộng sản Việt Nam dường như không đủ để giải thích hiện tượng đó.

 

Và một bài học nhỏ ở nước ngoài

Page 56: Tieu Thuyet Nong Thon

Các nhà lý luận quan phương sau này, khi nhìn lại những gì đã qua, thường không nói đến sự kiện đã ảnh hưởng nhiều đến cuộc đổi mới của Việt Nam vào lúc bấy giờ là Đại hội lần thứ 27 của đảng cộng sản Liên Xô (1985). Nhưng trong thực tế thì ai cũng biết rõ rằng ảnh hưởng ấy không những sâu sắc mà còn quyết định nữa, đến nỗi có thể nói rằng nếu không có Liên Xô cung cấp cho lý luận thì cũng không thể có Đại hội VI như nó đã diễn ra. Hơn ai hết, những người lãnh đạo Đảng, lúc bấy giờ đã biết điều này khá rõ ràng. Cho đến cuối 1985, chống Trung Quốc vẫn là một trong hai nhiệm vụ chiến lược của Việt Nam (bảo vệ tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội), vì thế khi Đại hội VI coi việc “đoàn kết và hợp tác với Liên Xô là hòn đá tảng trong chính sách đối ngoại của Đảng và nhà nước” [50] thì đó không phải chỉ là chuyện hữu nghị ngoại giao; cả chục tỷ rúp viện trợ của Liên Xô đã đổ vào Việt Nam suốt mười năm để giúp Việt Nam xây dựng chủ nghĩa xã hội thật ra thì là vô ích [51]. Vì thế người ta sẽ không ngạc nhiên khi chuẩn bị cho việc làm Cương lĩnh xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong giai đoạn mới, Đảng đã cử một tiểu ban 12 người (do Nguyễn Đức Bình cầm đầu) sang Liên Xô vào tháng 5-1988 để học tập, trao đổi, ghi nhận những đóng góp của “bạn” khá tích cực; và điều này cũng chỉ là việc triển khai những kết luận của Đại hội VI thôi:

Đảng ta, một lần nữa, bày tỏ sự ủng hộ hoàn toàn chính sách đối nội và đối ngoại được thông qua tại Đại hội lần thứ XXVII Đảng cộng sản Liên Xô, ủng hộ hoàn toàn Cương lĩnh (bản viết mới) của Đảng cộng sản Liên Xô, coi đó là một mẫu mực của sự vận dụng học thuyết Mácxít-Lêninnít  [52].

Do đó có thể nói sự chiến thắng của tư tưởng đổi mới của Đại hội VI cũng là sự chiến thắng của tư tưởng cải tổ của Liên Xô ở Việt Nam. Không thể là của Trung Quốc được – hẳn là như vậy – mặc dù Trung Quốc đã tiến hành cải cách từ cuối 1978, và đường lối này xem ra có vẻ hợp với Việt Nam hơn. Và cũng không thể từ những “kinh nghiệm” của bản thân Việt Nam, hiểu theo nghĩa là một thứ sức đẩy tất yếu, nội tại: “công khai”, “dân chủ”, chấp nhận đối thoại, cọ xát một cách thanh thiên bạch nhật những xu hướng tư tưởng khác, coi báo chí văn học nghệ thuật, trí thức là người tham khảo thường xuyên để hình thành chính sách, những “kinh nghiệm” như thế rất khó mà dung hợp được lâu dài với cái não trạng của những người mà mục đích chiến đấu không có gì khác hơn là muốn trở thành một thứ minh quân cách mạng (kiểu ông Hồ Chí Minh), luôn luôn tự cho mình đứng được trên chín tầng cao của lịch sử để cúi xuống lo cho dân từ những “tương cà mắm muối” đến những bài học phải sống phải chết như thế nào. Đối với một thứ não trạng như vậy, công khai, dân chủ quả là một cái gì đó mang ý nghĩa khá đột xuất.

Tuy vậy nếu quay về với lịch sử của Đảng cộng sản Việt Nam qua các thời kỳ, chúng ta thấy hiện tượng tương tự không phải là hiếm (tuy nội dung

Page 57: Tieu Thuyet Nong Thon

mỗi lúc một khác); đã không ít trường hợp các thế lực bên ngoài đã có tác động khá quyết liệt đến đường lối đối nội của Việt Nam. Chúng ta đã nói đến sự ngả nghiêng không ngừng của Việt Nam trước phong trào cộng sản quốc tế, và điều đó không phải chỉ mới xảy ra gần đây thôi: người ta đã nói khá nhiều về việc Hồ Chí Minh với Sách lược vắn tắt thành lập đảng, sau đó không lâu đã bị Trần Phú nhân danh Quốc tế cộng sản phê phán gay gắt [53]và có lẽ vì đó mà ông đã bị đẩy vào bóng tối suốt một thời gian dài. Chỉ đến khi đường lối Quốc tế thay đổi (trước hiểm họa phát xít), Hồ Chí Minh mới được phục hồi trở về nước lãnh đạo cách mạng tháng 8 thành công nhờ biết trung thành với chiến thuật quen thuộc của mình là giương cao ngọn cờ dân tộc, che giấu bớt thực chất cộng sản. Khi thực dân Pháp ngoan cố trở lại Việt Nam, đẩy nước Việt Nam mới khai sinh vào rừng kháng chiến, ông vẫn giữ đường lối đó một thời gian. Chỉ đến năm 1949, dựa vào cuộc cách mạng đã thành công của Trung Quốc để đẩy mạnh cuộc kháng chiến ấy đến mau thắng lợi, đường lối ấy cũng đã thay đổi theo một cách toàn diện: đất nước không chỉ là độc lập mà còn đấu tranh giai cấp, cải cách ruộng đất, chỉnh huấn, chỉnh phong nữa. Góp phần tạo nên chiến thắng cho Việt Nam rõ ràng không phải chỉ có súng đạn lương thực mà còn có “tư tưởng” Mao Trạch Đông vượt biên giới vào Việt Nam. Bởi vậy sau khi vui mừng vì độc lập rồi thì người dân Việt Nam liền ngay đó phải khốn khổ vì những cuộc đấu tố long trời lở đất mà những vết hằn của chúng  đã để lại trong đời sống không những không bao giờ quên được mà còn có tác dụng hình thành nên một não trạng cầm quyền (“bần cố nông”)  gây ra không biết bao thảm họa cho dân tộc mãi về sau.

Những sự ngả nghiêng của Việt Nam trước những sóng gió “quốc tế” như vậy chưa phải chấm dứt. Việc những người lãnh đạo nay kết thân Trung Quốc chống Liên Xô, mai thân Liên Xô chống Trung Quốc là điều đáng chú ý sau đây: khi theo ai thì “Đảng ta” bao giờ cũng bốc người ta lên tận trời xanh còn khi chống ai thì lại đào mồ cuốc mả tổ tiên người ta lên – không phải chỉ về mặt ngoại giao mà còn cả về văn hóa, tư tưởng. Ở đây không phải là chỗ để chúng tôi dẫn lại những câu thơ tiêu biểu của những thi sĩ “vĩ đại” của Việt Nam trong cuộc chơi đó: nay khóc Stalin chết hơn khóc ông khóc cha thì mai chửi Liên Xô là đồ buôn bán lương tâm, nay ca ngợi cụ Mao như ngọn hải đăng rọi sáng nhân loại thì mai chửi bọn “bành trướng Bắc kinh” không khác gì lũ ma vương... Giả dối hay thật thì khó mà nói cho cạn lẽ; có điều chắc chắn lúc nào họ cũng nhớ rằng họ là những người cầm bút của Đảng, vì Đảng mà xoay bút của mình một cách nhanh chóng, dễ dàng. Những câu thơ như vậy phải chăng cũng đã phản ánh trung thực cái não trạng của những người lãnh đạo Đảng? Điều chắc chắn là đó không phải là những mối quan hệ quốc tế bình thường như người ta vẫn hiểu: lúc nào nó cũng phủ đầy màu ý thức hệ, ở bên ngoài nếu nó gây nên những cuộc cãi nhau đinh tai nhức óc thì bên trong, nó

Page 58: Tieu Thuyet Nong Thon

cũng theo những lời thơ ấy mà hình thành một đường lối mới, rồi căn cứ vào đó tiến hành những cuộc thanh trừng nội bộ cực kỳ ác liệt.

Thái độ của những người lãnh đạo xung quanh Đại hội VI 1986 cũng chỉ là việc lặp lại cái kinh nghiệm nói trên. Chúng ta còn nhớ trong Đại hội này người ta đã ca ngợi Liên Xô như thế nào và hiểu cái tác dụng mang tính “bước ngoặt” của nó đối với quá trình đổi mới như thế nào. Đừng quên rằng nếu trong đại hội VI, vấn đề kinh tế chỉ được đặt ra một cách nửa vời thì, cùng với cái khí thế đổi mới toàn diện trong đó nổi bật lên những hoạt động lý luận, văn hóa, những hoạt động kinh tế nhờ đó đã đi đến được những cột mốc cải cách quan trọng: với Hội nghị Trung ương 6, khóa VI, tháng 9-1989, trong lúc cơ chế quan liêu bao cấp đã hầu như thanh toán xong về lý luận thì cơ chế thị trường cũng đã có điều kiện để thiết lập một cách đồng bộ: thừa nhận thị trường vừa là căn cứ vừa là đối tượng của kế hoạch, dứt khoát thực hiện chính sách nhiều thành phần kinh tế (chấm dứt cải tạo, đặc biệt cải tạo quyết liệt tư bản thương nghiệp), trao quyền trực tiếp xuất nhập khẩu cho các đơn vị kinh doanh v.v... [54]. Nhưng chỉ sau đó chừng vài tháng, do nhận thấy đường lối “đổi mới” kiểu Liên Xô về mặt chính trị không lợi cho việc duy trì quyền lợi của Đảng (những phê phán bắt đầu đụng đến những vùng cấm) cho nên những người lãnh đạo, trong lúc cứ tiếp tục cho kinh tế phát triển theo hướng tư bản chủ nghĩa, thì về mặt chính trị đã quay ngoắt lại 180 độ phê phán Liên Xô quyết liệt (Hội nghị Trung ương 8, tháng 3-1990). Sự thay đổi này, xét cho cùng, là hoàn toàn có thể hiểu được về mặt điều chỉnh sách lược cho phù hợp với những biến động của tình hình. Nhưng điều đáng chú ý ở đây là sự “điều chỉnh” đó đã diễn ra dưới hình thức đấu tranh ý thức hệ hết sức kỳ quặc: nếu trước đây người ta dựa theo Liên Xô để đổi mới một cách ồn ào và nhanh chóng thì nay không theo Liên Xô nữa người ta cũng đã chống lại đổi mới kiểu Liên Xô một cách cũng ồn ào và nhanh chóng như vậy.

Tất cả những thủ đoạn trấn áp công khai trên báo chí, những cuộc vận động ngầm trong nội bộ (kể cả cơ quan công an, nội chính) từng áp dụng trong thời kỳ tối tăm trước đây đều được vận dụng đồng bộ. Và người cầm đầu cuộc trấn áp này không phải ai khác hơn ông Nguyễn Văn Linh – thủ lĩnh đổi mới của Đại hội VI! Bằng những lời lẽ cay cú, giận dữ, ông giả vờ quên đi tất cả những gì đã kích động đám quân sĩ của ông xông ra trận, để quật lại chính những người đã nghe theo lời ông một cách nhiệt thành. Chính thái độ của ông đã làm bùng lên những cơn phẫn nộ trong báo chí và do đó đã liên kết với nhau chống trả quyết liệt suốt một thời gian dài. Lần lượt những người phụ trách các báo trung thành với chủ trương đổi mới của Đại hội VI như Nguyên Ngọc (Văn nghệ), Bùi Minh Quốc (Langbian), Tô Hoà (Sài Gòn Giải phóng), Tô Nhuận Vĩ (Sông Hương), Kim Hạnh (Tuổi trẻ), Hoàng Phủ Ngọc Tường (Cửa Việt), Kim Tinh (Ấp Bắc), Lê Phúc (Đối thoại, Vĩnh Long), Nguyễn Hộ (Truyền

Page 59: Tieu Thuyet Nong Thon

thống kháng chiến) đều lần lượt bị thuyên chuyển công tác (riêng Nguyễn Hộ thì bị bắt). Đặc biệt những cán bộ cao cấp được giao cho nhiệm vụ triển khai Đại hội VI về mặt văn hóa, tư tưởng như Trần Xuân Bách, Trần Độ, Nguyễn Văn Hạnh, v.v.. cũng đã bị loại khỏi hàng ngũ lãnh đạo. Cuộc trấn áp đã đến đỉnh cao của nó khi nhà văn Dương Thu Hương bị bắt vì đã chỉ trích gay gắt cái ý thức hệ mang đến tại họa cho đất nước. Cuối cùng đến cuối năm 1992, với sự đóng cửa tờ Cửa Việt (Quảng Trị) thì phong trào hoàn toàn xẹp xuống.

Một đường lối “đổi mới” khác đã được hình thành lại dần dần từ đó cho đến khi Đông Âu, rồi Liên Xô sụp đổ, biểu hiện rõ nét hơn với Nghị quyết của đại hội VII (tháng 6-1991): sau khi dọ dẫm muốn liên kết với Trung Quốc để củng cố “phe” xã hội chủ nghĩa, Việt Nam đã hội nhập hẳn vào nền kinh tế tư bản thế giới, làm ăn hẳn theo phương thức tư bản chủ nghĩa, nhờ vốn liếng, kỹ thuật của tư bản để “công nghiệp hóa và hiện đại hóa” đất nước, nhưng về mặt chính trị, văn hóa trong nước thì cuộc trấn áp ngày càng trở nên gắt gao – ít nhất là trong lĩnh vực mà Đảng còn kiểm soát được. Đại hội VI từ đó về sau nếu có được nhắc lại thì cũng chỉ được ghi nhận ở khía cạnh kinh tế thôi. Một tình thế mới rõ ràng đã hình thành ở Việt Nam sau bước ngoặt phủ định tinh thần “đổi mới toàn diện” của Đại hội VI: một nhà nước do một đảng độc quyền lãnh đạo, nhân danh một ý thức hệ lỗi thời, cương quyết trấn áp những gì khác mình về tư tưởng [55] nhưng lại tiếp nhận mọi biện pháp của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa để “tăng trưởng” – điều đó có ý nghĩa gì xét về mặt lý luận lẫn thực tế? Phải chăng trong khi đề ra những chiến dịch rất dữ dội gọi là “chống diễn biến hòa bình”, Đảng đã tự mình dành độc quyền để thực hiện kiểu “diễn biến hòa bình”– từ một thực thể độc tài khuynh tả chuyển sang một thứ độc tài khuynh hữu mà công thức thống trị đã trở thành khá quen thuộc đối với một số nước thứ ba: tư sản nhà nước thối nát câu kết với các tập đoàn mafia thực hiện chính sách mở rộng cửa cho tư bản quốc tế vào khai thác đất nước? Hay là cũng là một chế độ độc tài khuynh hữu, nhưng thực hiện được kiểu phát triển “hóa rồng” của một số nước châu Á: dựa vào sự thống trị của một đảng để khởi động cho một cơ chế thị trường có thực lực hoạt động, đồng thời ấp ủ cho sự ra đời của một xã hội công dân đi chung với cái cơ chế thị trường ấy, mục đích “cất cánh” cho được nền kinh tế rồi sau đó nới rộng dân chủ, nhường quyền quyết định vận mệnh dân tộc cho cái xã hội công dân mới ra đời, hình thành một thể chế đa nguyên? Cũng đã có nhiều câu hỏi tương tự đặt ra và cũng đã có nhiều cách trả lời, nhưng theo chỗ chúng tôi biết thì dường như chưa có ý định nào thử nêu hẳn hòi thành chủ đề tập trung để tìm hiểu cả.

 

Mấy gợi ý

Page 60: Tieu Thuyet Nong Thon

Như đã nói, mục đích bài viết này đã được giới hạn cho nên chúng tôi không thể và cũng không có ý định trả lời những câu hỏi đã gợi ra. Tuy vậy, căn cứ vào những gì đã phân tích qua hai thời điểm nói trên (1979 và 1986) chúng tôi nêu ra một số suy nghĩ như sau:

1.  Việt Nam không phải là một dân tộc không có khả năng phát triển. Trái lại đây là cộng đồng hiếu động, biết thích ứng, đáng lẽ có thể cất cánh từ lâu, nhưng do hàng loạt những lý do có tính chất địa lý- chính trị, Việt Nam đã phải đương đầu với cuộc chiến tranh dai dẳng hoàn thành độc lập, thống nhất, vì đó đã bỏ mất nhiều cơ hội. Chủ nghĩa cộng sản có công lớn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và cũng có quyết tâm rất lớn trong việc hiện đại hóa sau khi đã giành chiến thắng hoàn toàn, nhưng do sai lầm về ý thức hệ phát triển nên, ngược với ý muốn của mình, Đảng cộng sản đã đẩy lùi lịch sử đất nước về phía sau, làm chậm lại quá trình hiện đại hóa của dân tộc. Đây là sai lầm không riêng của Đảng cộng sản Việt Nam; nó nằm trong bản thân chủ nghĩa cộng sản khi từ lĩnh vực triết học bước sang lĩnh vực chính trị, từ lý thuyết đem áp dụng vào thực hành, đặc biệt trong lĩnh vực tổ chức nhà nước – dù cho có được thực hiện bằng mô hình nào đi nữa.

2.  Trước những thất bại quá hiển nhiên nói trên, những người lãnh đạo đã phải thực hiện hết những nhân nhượng này đến nhân nhượng khác mà quá trình diễn biến của nó từ 1979 đến 1989 là bằng chứng rõ rệt nhất: tất cả những gì gọi được là “xã hội chủ nghĩa” sau này chỉ còn là sự độc quyền của một đảng mệnh danh là đảng cộng sản. Sự nhân nhượng về kinh tế, xét về mặt chính trị, vẫn có lợi cho sự thống trị của Đảng, nên vẫn được tiếp tục theo chiều hướng tối đa hóa. Lý do dẫn đến sự nhân nhượng có tính chất lượng đó, chủ yếu là do tình hình bên ngoài hoàn toàn bất lợi do việc thực hiện chủ nghĩa xã hội một cách tinh ròng: sự phá sản của toàn bộ cái gọi là “phe” xã hội chủ nghĩa, chủ nghĩa Mác-Lênin ngày càng tỏ ra lạc lõng, xa lạ với sự phát triển của thế giới hiện đại. Để tự mình nó, Đảng cộng sản Việt Nam, với truyền thống của mình, không thể tiến hành những cuộc canh tân quyết liệt. Tình hình thế giới hiện nay đối với việc thúc đẩy sự cải cách của Việt Nam trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.

3.   Lịch sử của đổi mới như vậy vừa là quá trình chịu những áp lực khác nhau buộc Đảng phải từ bỏ đường lối chính thống, lại cũng vừa là quá trình Đảng cố gắng chủ động nương theo những cái đã nhân nhượng để bảo vệ cho lấy được sự độc quyền cai trị của mình đối với xã hội. Đấy không phải là công việc dễ dàng: qua những cuộc uốn nắn, thanh trừ liên tục, bản thân Đảng cũng đã dần dần thay đổi, nội bộ ngày càng phân hóa thành nhiều xu hướng cần phải thỏa hiệp với nhau để tồn tại hơn là “nhất trí”. Sau khi đường lối của Đại hội VI bị điều chỉnh lại, xu hướng bảo thủ ý thức hệ được phục hồi và giữ vai trò chi phối về mặt tư tưởng. Không chấp nhận cải tổ kiểu “dân chủ”, “công khai”,

Page 61: Tieu Thuyet Nong Thon

nhưng cũng không thể lập lại những giáo điều cũ: đó chính là điều được gọi là “đổi mới lý luận” và để làm được điều đó những thủ đoạn sau đây đã được viện tới: trên cơ sở những cái cốt lõi có sẵn của hệ thống (khoa học, duy vật, tiến bộ), người ta cố ý nói cho nhẹ đi một số khái niệm tỏ vẻ khó nghe (bạo lực, duy nhất đúng đắn, chuyên chính vô sản), đồng thời vay mượn một số khái niệm của những hệ thống phi mácxít (tân cổ điển, chính trị học tây phương, văn hóa phương đông, truyền thống dân tộc) để làm cho hệ tư tưởng chính thống có vẻ như “mềm” hơn và “cởi mở hơn”. Tất cả những thủ đoạn ấy đều có mục đích sơn phết lại cái tính hợp pháp mà Đảng đã có được thời giải phóng dân tộc và đã bị bào mòn đi trong những thí nghiệm thất bại về “xây dựng chủ nghĩa xã hội”. Nhưng điều đó cũng không phải dễ dàng: vì tính chất táp nham quá rõ rệt của nó, cho nên những nhà lý luận của Đảng đã không biết cách nào khác để tạo thêm sức nặng cho nó ngoài cách trộn vào đó (với một nồng độ khá đậm đặc) thứ lý lẽ sặc mùi hù dọa học được của người bạn Bắc phương (người bạn mà trước đây đã từng bị chửi rủa là “phản bội”), gọi là “diễn biến hòa bình”. Sự thống trị ý thức hệ vụng về ấy dĩ nhiên không thể tạo ra được những cái tích cực hiểu theo nghĩa là sức mạnh của chân lý mà lại nghiêng hẳn về phần tự vệ tiêu cực: trong khi cố gắng duy trì cho được nguyên trạng, nếu nó đã kềm chế xã hội phát triển theo hướng cần thiết (vì vẫn bị những giáo điều cũ chi phối như: quốc doanh là chủ đạo, luật “cách mạng” vẫn quan trọng hơn luật pháp quyền...) thì mặt khác, nó lại làm cho chủ nghĩa hư vô (vốn là phản ứng đã có từ lâu của xã hội đối với chế độ toàn trị) trở nên nặng nề hơn rất nhiều. Cái mà những nhà xã hội học gọi là “không gian công cộng” của Việt Nam đã bị phá nát hoàn toàn.

4.  Tuy vậy, bên cạnh xu hướng bảo thủ ấy, quá trình đổi mới sau Đại hội VI cũng đã sản sinh ra một xu hướng có thể gọi là thực tiễn xuất phát từ đông đảo những người hoạt động trong các lĩnh vực chuyên biệt, ít quan hệ trực tiếp đến những chuyện ý thức hệ, như: tư vấn cải cách, phụ trách sản xuất, quản lý, đối ngoại... Bản thân những người này có thể vẫn là những đảng viên vì hàng loạt lý do thực tế, nhưng nếu xét về những kiến thức mà họ được cung cấp để điều hành công việc trong giai đoạn đổi mới này người ta không thể cho rằng họ đã góp phần củng cố cho cái ý thức hệ của Đảng. Điều này biểu hiện rõ nhất ở các Đại học kinh tế, những lớp huấn luyện về quản trị, hành chính, ở đó những loại kiến thức đi ngược hoàn toàn với chủ nghĩa Mác đã được giới thiệu hết sức thoải mái. Về phần chủ nghĩa Mác, nếu có được giới thiệu thì cũng không còn là một cái gì đó thiêng liêng đến phải quỳ mọp xuống như trước đây. Và điều này cũng hoàn toàn phù hợp với thực tế: trong rất nhiều hoạt động hiện nay, mọi việc đều trôi chảy mà vẫn không cần đến chủ nghĩa Mác, không cần đến Đảng. Tính chất phi ý thức hệ ngày càng trở nên bình thường đối với rất nhiều đảng viên.

Page 62: Tieu Thuyet Nong Thon

5.  Và đó cũng chính là cái lôgích của cuộc sống đang phát triển ở bên ngoài thế giới quan phương (Đảng, nhà nước), là những hoạt động kinh doanh, sản xuất, sinh hoạt, làm ăn mà nói theo danh từ trước đây thì đó chính là khu vực phi xã hội chủ nghĩa. Trong cái thế giới này, chẳng ai nói đến Đảng, nói đến xã hội chủ nghĩa và giả thử như có lúc phải nói đến thì cũng chẳng có gì nghiêm chỉnh, thế giới ấy đang tạo ra những quy luật riêng của nó – đó chính là điều mà những nhà triết học đã gọi là xã hội công dân, xã hội này trước đây bị triệt tiêu dưới chế độ toàn trị thì nay đã tự phục sinh dưới cơ chế thị trường. Có điều là trong tình hình hiện nay, xã hội công dân ấy vẫn chỉ tồn tại trong lĩnh vực kinh tế; một thứ xã hội công dân toàn diện, hiểu theo nghĩa hiện đại bao gồm ba lĩnh vực tạo thành ba quyền lực độc lập nhau: kinh tế, tư tưởng, chính trị vẫn chưa ra đời vì hai lĩnh vực sau vẫn còn bị khống chế. Tuy vậy, trong thực tế, sự khống chế ấy cũng đã đến lúc không còn có thể mang lại những hiệu quả hoàn toàn giống như trước đây nữa: dù có bị đè nén, trấn áp liên tục, các xu hướng văn hóa và chính trị không chấp nhận sự thống trị độc quyền về ý thức hệ của Đảng vẫn tồn tại và tìm mọi cách thích hợp để khẳng định sự tồn tại của mình. Những xu hướng ấy, xuất hiện tự nhiên trong nền kinh tế thị trường và giao lưu quốc tế, chúng đang tác động vào đời sống, vào Đảng, nhà nước theo cách thức của chúng, không có gì ngăn cản được. Và điều đó không mang ý nghĩa gì khác hơn là một cuộc vận động về ý thức mới đang diễn ra, tạo nguồn cảm hứng cho việc hình thành một lực lượng tinh thần, xây dựng nên một tính hợp pháp mới cho một thể chế mới thay cho thể chế cũ, tuy chưa sụp đổ hoàn toàn nhưng đã biến chất vì không còn tìm được lý do về đức lý và lịch sử để tồn tại.

     6. Việt Nam sẽ phát triển theo hướng nào? Những người lãnh đạo xác tín nhất của Đảng hiện nay đã phải từ bỏ những “giấc mộng vàng” của họ rồi: chủ nghĩa xã hội đối với họ, từ những cái gọi là biện pháp, chế độ đang bị đẩy dần lên những thứ “định hướng” hay “lý tưởng” mơ hồ, mù mịt.  Cố giữ cho được sự độc quyền thống trị của Đảng đối với đất nước để thực hiện một thứ chủ nghĩa tư bản nào đó – đó chính là ưu tư lớn nhất của những người lãnh đạo thuộc thế hệ hiện nay. Họ đang tạo ra những tiền đề để chủ nghĩa tư bản phục hồi ở Việt Nam, và điều đó, dù có thích hay không thích, những người Việt Nam cũng phải đối diện. Nhưng đó là thứ chủ nghĩa tư bản nào vậy? Đây không phải là câu hỏi thuần lý thuyết để phải cãi nhau chí chết mà không xong như trong trường hợp “chủ nghĩa xã hội”. Đã có hàng loạt những mô hình về chủ nghĩa tư bản xuất hiện trong lịch sử rồi: vấn đề đối với người đi sau – đi sau rốt – chỉ là vấn đề chọn lựa. Tất cả các nước “xã hội chủ nghĩa” đi theo mô hình mácxít không có nước nào thành công trong xây dựng cả – nhận xét ấy đến nay là điều không còn phải tranh cãi. Nhưng khi khẳng định ngược lại bằng cách nói rằng chỉ có con đường tư bản chủ nghĩa mới cứu được chúng ta thì có lẽ chúng ta lại rơi vào niềm lạc quan nào đó cũng đáng ngờ như thứ “lạc quan

Page 63: Tieu Thuyet Nong Thon

cách mạng” trước đây: ngược lại với tồi tệ nhất chưa hẳn đã là những cái tuyệt vời nhất!

   7.  Trước những mô hình có sẵn, và đã được tổng kết trên khắp thế giới, đặc biệt trong thế giới chậm phát triển, chúng ta muốn chọn mô hình nào? Làm sao để phân biệt được đó là thứ thiệt để có thể hóa rồng chứ không phải nửa dơi nửa chuột? Làm sao để hiểu và phân biệt được một thứ chủ nghĩa tư bản sơ khai, ngạo mạn đội lốt “xã hội chủ nghĩa” với thứ chủ nghĩa tư bản cũng sơ khai, ngạo mạn như vậy nhưng thẳng thừng tự nhận là quân phiệt độc tài? Chúng tôi nghĩ rằng mọi việc không thể dễ dàng, điều đó không chỉ tùy thuộc vào ý chí của một dân tộc quyết tâm muốn phát triển mà còn dính líu rất nhiều đến cái kinh nghiệm lịch sử mà dân tộc ấy đã trải qua, đến cái tính cách riêng biệt của dân tộc ấy trên con đường đi đến tương lai nữa.

Nếu những người Việt Nam hiện nay khi nói về mình mà chỉ chứng minh được mình là một cộng đồng hiểu theo nghĩa truyền thống của nó (ngôn ngữ, phong tục...) – để rồi từ đó có thể tự hào hoặc chê bai – thì mọi vấn đề cũng chẳng có gì thay đổi cả. Nếu dân tộc không trở thành cái tập hợp gọi là xã hội công dân, bao gồm nhiều thành phần khác nhau, tìm được một sự đồng thuận đặt nền trên một tinh thần dân chủ để phát triển, một xã hội công dân toàn diện trong đó dẫn đầu là những nhà tư tưởng của mình, một xã hội công dân đủ mạnh để kiểm soát cho được cái nhà nước mà mình tạo ra thì dân tộc ấy vẫn chưa trở thành hiện đại được.  Đó vẫn chỉ là một tộc người cổ truyền với cái tâm thức của những kẻ nghèo hèn nhìn lên trông chờ một đấng bậc nào đó có được quyền lực tuyệt đối trong tay, biết hứa hẹn những ngọt ngào nhưng cuối cùng chỉ có thể đưa người ta đến “những thiên đường mù”! Theo ý chúng tôi, xã hội công dân với một đội ngũ trí thức lành mạnh của nó – đó chính là vấn đề căn bản của Việt Nam hiện nay: nếu chưa đặt vấn đề đó lên bàn thảo luận mà cứ nói chuyện “lật đổ” hay “đổi mới” cái nhà nước hiện tồn, thì có lẽ đó chỉ là những chuyện chưa đủ nghiêm chỉnh để có thể thảo luận sâu hơn.

 

20-9-1994

 

[1] ĐỖ THẾ TÙNG: Nhìn lại quá trình đổi mới tư duy lý luận của đảng ta về phát triển kinh tế hàng hóa, Tạp chí Cộng sản (TCCS) số 10-1993, tr. 30. 

[2] LÊ HỮU NGHĨA: Về thực chất con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, Nghiên cứu lý luận, số 5-1992, tr. 22.

Page 64: Tieu Thuyet Nong Thon

[3]  “Cả nước là một công trường thủ công” (LÊ DUẪN: Phát biểu chuẩn bị 50 năm ngày thành lập Đảng, cuối tháng 7-1979).

[4] “Vấn đề chính không phải sử dụng thuật ngữ này hay thuật ngữ khác, tên gọi này hay tên gọi khác. Điều chủ yếu là ở chỗ nhận thức được đúng đắn bản chất, nội dung của chuyên chính vô sản, trên cơ sở đó khắc phục những sai lầm trong nhận thức cũng như trong thực tế về chuyên chính vô sản” (TRẦN THÀNH: Nhận thức lại bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa, Nghiên cứu lý luận, số 5-1991, tr. 18).

[5] Cũng đã xuất hiện trong những năm gần đây những tài liệu chuyền tay nhưng nội dung thường nghiêng về tranh luận, phê phán đường lối chính thống nhiều hơn là đi vào nghiên cứu lịch sử của “đổi mới”.

[6] Có thể kể một số công trình sau đây:

- Những thách thức trên con đường cải cách ở Đông Dương (Trường Đại học Harvard, BORJE LJUNGGREN chủ biên), bản tiếng Việt: Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994.

- Đổi mới, Vietnam’s Renovation and Performance, Australian National University, Canberra, 1991.

Vietnam and the Rule of Law, ANU, 1993.

[7] Ý của ADAM FFORTE, xem Đổi mới, sđd, tr. 101.

[8]   BORJE LJUNGGREN: xem Những thách thức, sđd, tr. 107.

[9]   ĐỖ THẾ TÙNG, Bđd, TCCS số 10-1993

[10] ADAM FFORTE: Đổi mới, tr. 101

[11]  DAVID G. MARR: Đổi mới, tr. 16

[12] ADAM FFORTE: Những thách thức, tr. 494

[13]  DWIGHT H. PERKINS: Những thách thức, tr. 38

[14] Thí dụ những phân tích về “đổi mới và thích ứng” về chính trị ở Việt Nam của WILLIAM S. TURLEY: Những thách thức, tr. 523-540

Page 65: Tieu Thuyet Nong Thon

[15] Ông PHẠM VĂN ĐỒNG phát biểu tại Paris tháng 4-1977: “Về phần chúng tôi, chúng tôi sẽ làm điều đó (quyết tâm xây dựng một cuộc sống tốt đẹp hơn) để chứng minh cho các dân tộc khác, những dân tộc bé nhỏ, những dân tộc trung bình, những dân tộc chưa phát triển rằng họ cũng có thể làm được điều đó” (Bulletin de l’Association d’Amitié Franco-Vietnamienne, Mai 1977). Xem ALAIN RUSCIO: Vivre au Vietnam, Editions sociales, Paris, 1981, p. 59.

[16] Sau hiệp định Paris 1973, ông TỐ HỮu vào Nam, nói chuyện với cán bộ R (Trung ương cục miền Nam) ông đã làm người ta bừng bừng với những lời lẽ sau đây: Việt Nam không có gì phải sợ Nhật; sự hưng thịnh của Nhật là sự kết hợp giữa chủ nghĩa quân phiệt với khoa học kỹ thuật; ta có chủ nghĩa anh hùng cách mạng cao hơn Nhật nhiều lần, nếu chịu khó gấp rút tiếp thu khoa học kỹ thuật thì không mấy chốc mà trở thành cường quốc. Theo ông Tố Hữu thì xét về tinh thần, thế giới hiện nay chỉ có Việt Nam là “ngon” nhất, vì Việt Nam là “lương tâm của loài người”, mỗi sáng mở mắt thức dậy rất nhiều người Tây phương đã mong mỏi có thể biến thành người Việt Nam. Cái ý ghê gớm nhất của ông là: Việt Nam có thể khởi đầu một cái gì giống như một “Thời Phục hưng” cho loài người!

[17] Trong bài nói chuyện trước Hội nghị cán bộ chuẩn bị kỷ niệm 50 năm ngày thành lập đảng (tổ chức tại Hà Nội vào cuối tháng 7-1979), trước tình hình căng thẳng vào lúc bấy giờ ông Lê Duẩn vẫn phát biểu hùng hồn về nỗi ước mong của ông rằng dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản, người Việt Nam sẽ trở thành con người tiêu biểu cho văn hóa, mà văn hóa theo ông là tình thương, tình thương là cách mạng, là cái alternative (ông dùng tiếng Pháp) thay cho tôn giáo. Ông cho biết ông đã nói với các nhà tu hành rằng: chúng ta không cần paradis, không cần nirvana, chúng ta vẫn có thể xây dựng hạnh phúc ở trần gian. Theo ông, cái chìa khóa mở cửa vào cái thiên đàng hạ giới ấy chính là quyền làm chủ tập thể (ông phê phán Lênin chưa biết điều đó), là cái motivation để chủ nghĩa xã hội chiến thắng chủ nghĩa tư bản về mặt tinh thần. Những khó khăn vào lúc bấy giờ (ăn bo bo) không đáng căng thẳng, nhưng lình xình không giải quyết được gây ra lộn xộn, làm yếu tinh thần, xao xuyến tâm lý!

[18] Báo cáo chính trị Đại hội VI (Học tập, tháng 12-1976, tr. 46)

[19] Ông Đỗ Mười, tổng bí thư đảng khóa VII, đã nói trong một cuộc gặp gỡ cán bộ, trí thức tại thành phố Hồ Chí Minh (ngày 8-9-1991): Trước đây khi đề cập đến món nợ 8 tỷ USD trong chiến tranh, tôi đã nói với những người lãnh đạo Liên Xô: các anh đã giúp vũ khí cho chúng tôi đánh giặc, chúng tôi thắng là chính các anh thắng. Hơn nữa mỗi khi hạ được những vũ khí mới như kiểu cánh cụp cánh xòe thì ta chở qua Liên Xô. Cũng nhờ mười mấy năm ta đánh

Page 66: Tieu Thuyet Nong Thon

Mỹ mà Liên Xô mạnh hẳn lên. Cần phải xóa món nợ ấy đi. Lẽ ra Liên Xô phải trả thêm cho Việt Nam 10 tỷ nữa kia!

[20] Ông Phạm Văn Đồng trước 1975 cũng hay nói đến đề tài này. Sau khi chiến thắng đề tài đó được tiếp tục khai thác. Ông VĂN TIẾN DŨNG đã viết trong Đại thắng mùa xuân (NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1976, tr. 320): “Sức mạnh phơi phới của cả nước và tài tổ chức làm nên cuộc toàn thắng lịch sử sẽ làm nên những kỳ tích trong cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên cả nước ta”. Cái lôgíc ở đây là: làm được cái này ắt cũng làm được cái kia.

[21] Có nơi đi đào kênh làm thủy lợi, khi đào xong, nước không lên tới vì không tính đến độ dốc của đất, còn nơi đào nước vào được thì cả một vùng cây trái bị chết vì nhiễm phèn.

[22] Sau cuộc chiến tranh biên giới với Trung Quốc ở Việt Nam đã xuất hiện khá nhiều sách chống chủ nghĩa “bành trướng Đại Hán Maoít”, nhiều nhất là dịch từ Liên Xô.

[23] Lúc bấy giờ, các “tập bài giảng về quản lý kinh tế xã hội chủ nghĩa” của các giáo sư Liên Xô tại Trường Quản lý kinh tế trung ương đã được in và phổ biến rộng. Trong văn học, cuốn tiểu thuyết Chuyện thường ngày ở huyện của OVESKIN có nội dung chống các hiện tượng quan liêu trong xã hội Liên Xô, đã được dịch và được chào đón nồng nhiệt ở Việt Nam.

[24] NGUYỄN VĂN LINH: Thành phố Hồ Chí Minh 10 năm, Sự thật, Hà Nội, 1985, tr. 104.

[25] ĐD: “Mấy ý kiến về vấn đề chống văn hóa thực dân mới”, tạp chí Đứng dậy Xuân 1978.

[26] LỮ PHƯƠNG: “Bản chất của đảng”, Tin sáng 6-6-1979; “Sức mạnh của đất”, Tin sáng 10-6-1979

[27] HOÀNG NGỌC HIÊN: Về một đặc điểm của văn học và nghệ thuật ở ta trong giai đoạn vừa qua, Văn nghệ số 23, 29-6-1979.

[28] Nhà văn quân đội, được đề bạt làm Bí thư đảng đoàn Hội Nhà văn, chuẩn bị tổ chức Đại hội Hội Nhà văn lần thứ 3. Nguồn cảm hứng khiến ông xây dựng Đề dẫn là những điều trông thấy trong cái gọi là “chủ nghĩa xã hội” thực hiện theo mô hình của Mao ở Kampuchia: đó là một thứ chủ nghĩa xã hội đàn bầy, ở đó không những không xài tiền mà nhà cửa không có số nữa. Sau khi trình bày

Page 67: Tieu Thuyet Nong Thon

Đề dẫn ông bị gạt ra khỏi “cơ cấu” lãnh đạo, để sau Đại hội trở lại làm Tổng biên tập báo Văn nghệ.

[29] HÀ XUÂN TRƯỜNG: Sự nghiệp văn hóa, văn nghệ dưới ánh sáng của Đại hội V, Sự thật, Hà Nội, 1983, tr. 63.

[30] Xem LÊ THANH NGHỊ: Một số vấn đề phát triển công nghiệp sản xuất và công nghiệp địa phương. TCCS số 11-1979; Tố Hữu: Nắm chắc đường lối của đảng, vững bước tiến lên, TCCS số 1-1980; Mấy vấn đề kinh tế cơ bản dưới ánh sáng của Nghị quyết 6, trong Thông tin lý luận số 3-1980.

[31]   NGUYỄN VĂN LINH: Sđd, tr. 152-153.

[32]  Xã luận TCCS số 11-1982. 

[33] VĂN TÙNG: Mở rộng quyền chủ động sản xuất kinh doanh và quyền tự chủ về tài chính trong các xí nghiệp công nghiệp quốc doanh, TCCS số 2-1982.

[34]  NGUYỄN ĐỨC BÌNH: Tư tưởng, tổ chức và kinh tế, TCCS số 9-1993.

[35]  HÀ XUÂN TRƯỜNG: Sđd, tr. 62.

[36]  Có lúc đảng đã ra chỉ thị kỷ luật với đảng viên nào kể chuyện tiếu lâm này.

[37] Xem PETER VAN NESS: Market Reform in Socialist Societies: Comparing China and Hungary, Lynne Reinor Publications, 1989.

[38] TỐ HỮU: TCCS số 8-1985.

[39] CỒ TIỂU TÙNG: Việt Nam đến năm 2000, Quảng tây xuất bản xã (Trung Quốc), 1991; bản tiếng Việt: TRẦN VĂN CHÁNH (không xuất bản).

[40] TRƯỜNG CHINH: Nắm vững ba bài học lớn để thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược, Sự thật, Hà Nội, 1986.

[41] Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VI, Sự thật, Hà Nội, 1987, tr. 100.

[42] Văn nghệ 17-10-1987.

[43]  Nghị quyết này được ban văn hóa văn nghệ do ông TRẦN ĐỘ phụ trách soạn thảo

Page 68: Tieu Thuyet Nong Thon

[44] Dẫn đầu là tờ Văn nghệ do NGUYÊN NGỌC làm tổng biên tập với những bút ký và truyện ngắn gây chấn động trong cả nước.

[45] Những bài nói chuyện của NGUYỄN THẾ PHẤN và ĐẶNG QUỐC BẢO bấy giờ được chuyền tay nhau đọc khá rộng rãi.

[46] Xem MURRAY HIEBERT: Dissenting Voices, FEER, 2-12-1993.

[47] Có thể xem TRẦN NGỌC HIÊN: Chính sách kinh tế mới của Lênin và vận dụng vào điều kiện nước ta, NXB TP. Hồ Chí Minh, 1988.

[48]  Bài nói chuẩn bị kỷ niệm 50 năm thành lập đảng (xem chú thích số 17).

[49]  Sau Đại hội VI những tờ báo đổi mới như Văn nghệ, Tuổi trẻ tăng vụt nhanh chóng; các cuộc hội thảo khắp các đoàn thể cũng được tổ chức liên tục. Điều đáng lưu ý là trong tình hình ấy, các thứ tiếu lâm đen đột nhiên biến mất.

[50] Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VI, tr. 99.

[51] TRƯỜNG CHINH: Sđd, tr. 15.

[52] Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VI, tr. 100.

[53] Xem HUỲNH KIM KHÁNH: Vietnamese Communism 1925-1945, Cornell University Press, Ithaca and London, 1986, tr. 181.

[54] ĐỖ THẾ TÙNG: Bđd, TCCS số 10-1993.

[55]  Nhiều nhà nghiên cứu đã có xu hướng căn cứ vào những bài viết, bài nói công khai của các lãnh tụ đảng để tìm hiểu và cho đó chính là ý định đổi mới của đảng. Chúng tôi chỉ xin dẫn ra vài câu trích ra từ một tài liệu mang tên Một số vấn đề cần lưu ý khi góp ý kiến vào dự thảo Cương lĩnh, do Văn phòng Trung ương Đảng gửi các cấp ủy (10-11-1990) để hướng dẫn quần chúng góp ý kiến.

“Trước tình hình trong nước và quốc tế hiện nay, Cương lĩnh nắm vững và kiên định những nguyên tắc cơ bản, nhưng cách thể hiện phải mềm dẻo, mang tính thuyết phục. Sao cho có thể tranh thủ đoàn kết được các lực lượng ở trong nước và ngoài nước để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Khi góp ý kiến cần hiểu được ý đó của dự thảo”.

Page 69: Tieu Thuyet Nong Thon

“Dân chủ của nhân dân, chuyên chính với kẻ thù (từ chuyên chính này theo nghĩa hẹp, tức là trừng trị, trấn áp). Ở đây không viết từ chuyên chính vô sản vì có nơi, có lúc hiểu và thực hiện lệch lạc khái niệm đó. Dự thảo không bỏ  đi khái niệm chuyên chính vô sản mà đã diễn đạt thực chất nội dung khái niệm đó...”.

Nông thôn và người nông dân trong văn học Việt Nam thế kỷ XX1. Thế kỷ XX ở Việt Nam là thế kỷ có quá nhiều sự kiện kỳ vĩ và diễn biến cực kỳ nhanh gấp theo gia

tốc lớn của lịch sử, gần như là từng thập niên một. Chưa có thế kỷ nào trong lịch sử dân tộc, thậm

chí ngay cả nhiều thế kỷ trong lịch sử gộp lại có thể sánh với nó.

Ở thời điểm hôm nay - năm 2011, mà nhìn ngược lên đầu thế kỷ XX, chúng ta đã có một tầm

nhìn thật khoáng đãng để nhận chân và đánh giá đúng gương mặt lịch sử, trên hành trình hơn

một trăm năm, qua các chặng của nó. Tầm nhìn chúng ta không còn bị án ngữ bởi các sự kiện,

dẫu có là sự kiện "long trời lở đất" đến mấy, kể từ 1945, qua 1954, 1975 cho đến 1986… Bây giờ

là lúc, với tầm nhìn ấy, với khoảng cách ấy, chúng ta có thể đánh giá được và đúng và sau

những gì đã diễn ra trong lịch sử và lịch sử văn chương - học thuật dân tộc.

2. Trên các kết quả của cách mạng hóa và hiện đại hóa đã được thực hiện từ trước 1945, chúng

ta đã gặt hái được một mùa văn chương ngoạn mục 1930-1945. Trên cả ba dòng văn học: cách

mạng, hiện thực và lãng mạn thì dòng văn học hiện thực đã ghi được những thành tựu lớn,

những dấu ấn quan trọng trên bức tranh về đời sống nông thôn và người nông dân, qua đóng

góp xuất sắc của các tác giả như Hồ Biểu Chánh (1885-1958), Ngô Tất Tố (1893-1954), Trần

Tiêu (1900-1954), Nguyễn Công Hoan (1903-1977), Mạnh Phú Tư (1913-1959). Nam Cao (1915-

1951), Bùi Hiển (1919-2008), Kim Lân (1920-2007), Tô Hoài (sinh 1920)…

Để đến được với các tác giả và tác phẩm đỉnh cao như trên, trào lưu hiện thực đã trải qua một

lịch sử trên dưới 30 năm, qua ba phương thức tiếp cận:

- Tiếp cận đạo đức, luân lý

- Tiếp cận giai cấp, xã hội

- Tiếp cận tâm lý, phong tục

Nhiều chục năm trước đây ta chỉ biểu dương và đánh giá rất cao cách tiếp cận giai cấp, xã hội

với những tác phẩm tiêu biểu như Tắt đèn, Bước đường cùng, Chí Phèo… bây giờ cần phải thấy

là cả ba đều có đóng góp, và phải tiếp nhận cả ba phương thức mới có một gương mặt đầy đủ

về văn học đề tài nông thôn và người nông dân Việt Nam trong lịch sử.

3. Từ sau 1945, Việt Nam buộc phải chấp nhận hai cuộc chiến tranh kéo dài 30 năm, và ngay

trong chiến tranh vẫn phải xây dựng một xã hội mới theo mô hình dân chủ và tiến lên chủ nghĩa

xã hội, trong đó nông dân chiếm 90% dân số, và nông thôn là hậu phương lớn cho tiền tuyến;

người nông dân là đội quân chủ lực của cách mạng. Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu

một người. Một cuộc chiến tranh nhân dân, tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng, tất nhiên

nhân vật chính phải là người nông dân, và người lính chủ yếu là người nông dân mặc áo lính.

Page 70: Tieu Thuyet Nong Thon

Một đội ngũ những người viết thuộc thế hệ trước và sau 1945 đã chọn người nông dân làm nhân

vật trung tâm, với phẩm chất cơ bản là lòng yêu nước, là tình làng - nước. Phẩm chất đó đã

được ghi nhận khá sớm trong Làng của Kim Lân, Đánh trận giặc lúa của Bùi Hiển, Con trâu của

Nguyễn Văn Bổng… Còn trong Hà Nội bị tạm chiếm, Ngọc Giao lại có một cách khắc họa khác

về thân phận người nông dân như trong Đất, Xã Bèo người của đất.

Từ 1945, người nông dân, sau khi được cách mạng giải phóng, thoát khỏi kiếp sống nô lệ, được

hưởng những thành quả cơ bản của cách mạng là ruộng đất. Và không lâu sau lại chuyển thành

tài sản chung trong phong trào hợp tác hóa, nhằm xây dựng chủ nghĩa xã hội ngay trong cả thời

chiến. Tất cả những bước chuyển đó trong số phận người nông dân tập thể với ý thức tôn vinh

lợi ích chung - lợi ích cộng đồng, và với một viễn cảnh có thể hình dung được qua các khuôn

mẫu lớn như Đất vỡ hoang của M. Solokhov, Mùa gặt của Nicolaêva (Liên Xô)…

Một đội ngũ người viết thuộc thế hệ sau 1945 như Nguyễn Văn Bổng (1921-2001), Chu Văn

(1922-1994), Nguyễn Địch Dũng (1925-1993), Đào Vũ (1927-2005), Ngô Ngọc Bội (sinh 1929),

Nguyễn Thế Phương (1930-1989), Nguyễn Khải (1930-2008), Vũ Thị Thường (sinh 1930),

Nguyễn Kiên (1935), Nguyễn Hữu Nhàn (1938), Nguyễn Thị Ngọc Tú (1942), với các tác phẩm

xuất hiện chủ yếu từ giữa những năm 50 đến nửa đầu những năm 80 - là lực lượng đối diện với

hiện thực này.

Nhìn tổng thể, phương thức tiếp cận và xử lý đề tài nông thôn qua tất cả các tên tuổi trong đội

ngũ trên là phương thức hiện thực xã hội chủ nghĩa. Tức là nhìn cuộc sống trong yêu cầu khẳng

định cái mới - gồm cuộc sống mới - con người mới; và trong ý thức đấu tranh cho sự chiến thắng

của hệ ý thức xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội… trong một thế giới chia

làm hai phe, tồn tại từ giữa thế kỷ XX cho đến 1990, khi Liên Xô và hệ thống xã hội chủ nghĩa

Đông Âu tan vỡ.

Đây là một từ trường lớn, một áp lực lớn mà không người viết nào, dù có sáng suốt và dũng cảm

đến mấy có thể thoát ra được.

Nguyễn Khải từng được tiếng là nhà văn sắc sảo trong việc phát hiện những mặt trái, mặt khuất

tối của cuộc sống như trong Xung đột, Tầm nhìn xa, Chủ tịch huyện… thế mà cũng phải chờ đến

năm 1987, khi tâm sự về cái thời lãng mạn của mình mới nói ra được cái điều hẳn từ lâu ông biết

cách đào sâu chôn chặt rằng: phải có sự nghiệp Đổi mới do Đảng khởi xướng thì văn học mới

được cởi trói và tự cởi trói. Vì chúng ta không có quyền phê bình một chủ trương, một chính sách

trước khi Đảng tự nhận cần phải sửa đổi. Sai thì cùng sai, đúng thì cùng đúng, tác phẩm văn học

đã mất dần cái khả năng phát hiện, dự báo, đã xa cách hoặc đi ngược lại nhân tâm, dùng cái văn

chương phù phiếm để che đậy lên bao điều giả dối*.

Diện mạo và thành tựu văn học về đề tài nông thôn trong giai đoạn này được ghi nhận trên ba

cách tiếp cận:

- Trên tinh thần tin tưởng tuyệt đối vào đường lối cách mạng và đường lối văn nghệ của Đảng -

đó là những tác phẩm có giá trị minh chứng và khẳng định con đường phát triển đi lên của hiện

thực thông qua các sự kiện lớn, và cũng là những đảo lộn lớn trong sinh hoạt xã hội, và thân

phận con người, như Cải cách ruộng đất, Sửa sai, rồi Hợp tác hóa từ bậc thấp lên bậc cao…

Page 71: Tieu Thuyet Nong Thon

- Trên tinh thần tôn trọng sự thật và sự nhạy cảm trước những vấn đề nảy sinh trong hiện thực,

một số người viết đã có sự dũng cảm nhất định trong việc phát hiện những mặt tối hoặc bất ổn

của đời sống; và không ít người trong họ đã phải chịu "tai nạn nghề nghiệp".

- Cùng viết về nông thôn, nhưng hướng triển khai không phải là cách mạng quan hệ sản xuất, là

đấu tranh giai cấp, là con đường xây dựng xã hội chủ nghĩa… mà là tạo dựng bức tranh hậu

phương lớn của tiền tuyến, là quan hệ giữa "người ra trận" và "người ở nhà"… như trong Cửa

sông của Nguyễn Minh Châu, Người cửa sông của Đào Vũ, Vùng quê yên tĩnh của Nguyễn

Kiên…

Nhìn chung, từ 1945 đến đầu những năm 80, hai đề tài lớn, bao trùm văn học miền Bắc là chiến

tranh và nông thôn, cả hai cùng xen cài vào nhau, trong đó nông thôn và người nông dân vẫn có

sức thu hút lớn những cây bút thuộc thế hệ thứ hai, như đã kể trên, trong đó Chu Văn là một

gương mặt nổi bật với hai tập Bão biển…

Ở khoảng lùi hôm nay nhìn lại, dễ nhận thấy những mặt bất cập trong nhận thức hiện thực ở

vùng đề tài này - nhưng vẫn có thể nhận ra không ít những băn khoăn, trăn trở, ở một số người

viết luôn khao khát đến với sự thật đích thực. Và những gì không thực hiện được trước 1980, họ

sẽ gắng công điều chỉnh từ đầu những năm 80 cùng với một thế hệ chuyển nối - kể từ Nguyễn

Mạnh Tuấn, Ma Văn Kháng, Lê Lựu đến Nguyễn Khắc Trường, Dương Hướng, Đào Thắng,

Hoàng Minh Tường, Vũ Huy Anh, Hoàng Đình Quang… Để có Cù lao Tràm, Mưa mùa hạ, Thời

xa vắng, Mảnh đất lắm người nhiều ma, Bến không chồng, Dòng sông mía, Gia phả của đất,

Trăm năm thoáng chốc, Cánh đồng lưu lạc… Từ đây, bức tranh nông thôn Việt Nam qua tất cả

những đảo lộn lớn kể từ Cách mạng tháng Tám đến Cải cách ruộng đất và sửa sai; từ Hợp tác

hóa đến Khoán hộ sẽ được đặt lại trong một nhận thức mới và tư duy phản biện, có chỗ dựa

vững chắc là hai phương châm lớn của Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986: "Lấy dân làm gốc" và

"Nhìn thẳng v ào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật".

4. Từ Đổi mới đến nay là chặng thứ tư trong hành trình viết về nông thôn và người nông dân Việt

Nam, đã dần dần xuất hiện một bức tranh nông thôn mới và khác trước. Đó là nông thôn thời hậu

chiến; nông thôn trong và sau sự thực thi một mô hình sai lạc về phát triển xã hội; nông thôn

trong các quan hệ làng xã, gia tộc, dòng họ; nông thôn với sự bảo lưu hoặc thay đổi các tập

quán, phong tục… Cuối cùng, hoặc bao trùm, đó là nông thôn trong guồng chuyển đô thị hóa khi

đất nước bước vào thời kỳ hội nhập, mở cửa. Và đây mới là chất liệu chính, là miền đất hứa cực

kỳ hấp dẫn cho tiểu thuyết, bởi nó như là sự trở lại trên một quy mô và tầm vóc lớn hơn nhiều

những thành tựu đã được ghi nhận trong văn học hiện thực và hiện thực xã hội chủ nghĩa trước

và sau 1945.

Thế nhưng vấn đề đặt ra là rất đáng quan tâm ở đây là: Nếu ở các giai đoạn trước, văn học Việt

Nam đã có mấy thế hệ người viết tương xứng để gánh vác vai trò lịch sử - kể từ Hồ Biếu Chánh,

Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Kim Lân… qua Chu Văn, Nguyễn Khải, Đào Vũ,

Nguyễn Kiên, Ngô Ngọc Bội, Nguyễn Thị Ngọc Tú… đến Ma Văn Kháng, Lê Lựu, Nguyễn Khắc

Trường, Dương Hướng, Đào Thắng, Hoàng Minh Tường… thì với giai đoạn lịch sử mới này, cho

đến nay lại chưa thấy sự xuất hiện một tên tuổi nào nổi bật, càng chưa có một đội ngũ. Vậy

những ai là người có đủ sức vóc, tiềm năng và hứng thú để gánh vác trách nhiệm này? Nếu có,

họ đang ở đâu?

Page 72: Tieu Thuyet Nong Thon

Nhìn vào các mùa gặt lớn đã qua, thấy đội ngũ viết bao giờ cũng thực hiện được trách nhiệm lịch

sử của mình ở lứa tuổi 20 đến 30, rộng ra một chút là ở tuổi trên dưới 40. Và như vậy, lực lượng

đáng tin cậy cho giai đoạn mới này phải từ lứa tuổi 7X trở đi.

5. Cuối cùng, điều tôi muốn nói, đó là: trong cuộc Toàn cầu hóa lần thứ ba bắt đầu từ năm

2000** mà Việt Nam có cơ hội tham gia trong tư thế chủ động, chúng ta càng cần một tầm nhìn

xa, để thấy trong xã hội hiện đại sẽ không còn người nông dân, theo cách hiểu cũ - như là một

trong bộ tứ - tứ dân: Sỹ, nông, công, thương, với gương mặt và vị thế không đổi trong hàng ngàn

năm qua: "Nhất sỹ nhì nông. Hết gạo chạy rông. Nhất nông nhì sĩ". Bởi cấu trúc của xã hội hiện

đại trong sự phát triển hoàn chỉnh của nó sẽ chỉ còn 5 thành phần. Đó là: lớp người hoạt động

chính trị; lớp người quản lý hành chính; các doanh nhân trên các lĩnh vực sản xuất và lưu thông;

các tầng lớp trí thức; người lao động có kỹ năng nghề nghiệp. Người "nông dân" hoặc có "gốc

gác nông thôn", tôi tin rồi sẽ có mặt trong cả 5 thành phần. Tất nhiên để đến với cái đích ấy, đối

với đất nước chúng ta, còn là cả một thời gian dài.

Tất cả những gì văn học hiện đại đã ghi nhận được về nông thôn và người nông dân Việt Nam,

trong hơn 1 thế kỷ qua, gồm cả những phản ánh sắc nét, hoặc sơ lược với cảm hứng đa chiều

hoặc một chiều, đều cần và đều có ích cho chúng ta, và các thế hệ mai sau, để nhận lại gương

mặt và hành trình lịch sử của dân tộc, một dân tộc nông dân, như cách Marx từng nói về mối

quan hệ giữa các dân tộc trong thời hiện đại và thế giới hiện đại.

GS. Phong Lê

----------------

(*) Văn nghệ số 43 và 44; 10-1987

(**) Theo các giới khoa học phương Tây thì cuộc Toàn cầu hóa lần thứ nhất bắt đầu từ năm 1492 là năm Christophe

Colombus phát hiện ra c hâu Mỹ cho đến 1800-11 năm sau Cách mạng tư sản Pháp 1789. Cuộc thứ hai, từ 1800-2000

cũng 11 năm sau sự kiện bức tường Berlin sụp đổ 1989 - xóa bỏ tình thế thế giới chia thành 2 phe.

 (Nguồn: Tạp chí Cửa Việt)

Tiểu thuyết thời kỳ đổi mới: Có mới không?

 Không hề ngẫu nhiên mà tôi muốn đặt vấn đề “có mới không” đối với tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới. Bởi vì chữ “đổi mới” ở đây rõ ràng là không mang tính định tính (như trường hợp của Tiểu thuyết Mới ở Pháp những năm 1950 - 1960, chẳng hạn). Đơn giản, nó chỉ là cách định danh các tác phẩm tiểu thuyết xuất hiện trên văn đàn bắt đầu từ thời điểm 1986, khi đất nước bước vào công cuộc đổi mới toàn diện do Đảng khởi xướng và lãnh đạo. Một điểm nữa cần phải chú ý sau khi đã giới thuyết như trên, rằng công cuộc đổi mới đất nước đang ở thì hiện tại tiếp diễn, vì thế tiểu thuyết thời kỳ đổi mới chưa hề là một quá khứ hoàn thành.

HOÀI TRÂN

Vậy nên, tôi sẽ chỉ xem xét vấn đề cái mới ở đây trong phạm vi các tác phẩm tiểu thuyết của giai đoạn từ 1986 - 1992, giai đoạn vẫn mặc nhiên được coi là cao trào  của văn học đổi mới nói chung.

Vậy có gì mới không trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn này, so với chính nó ở các giai đoạn trước kia?

Page 73: Tieu Thuyet Nong Thon

Đương nhiên có, chỉ cần chúng ta chú ý tới thái độ của tiểu thuyết gia đối với các vấn đề của hiện thực xã hội là đủ rõ. Kể từ 1945 - 1986, về cơ bản, tiểu thuyết Việt Nam được xuất xưởng theo những nguyên tắc của cái gọi là phương pháp sáng tác hiện thực XHCN. Người viết chăm chăm nhìn vào hiện thực để phát hiện những “ xung động thẩm mĩ thuận chiều”, tóm lấy nó, đưa vào tác phẩm. Nhiều, và rất nhiều cuốn tiểt thuyết nêu gương người tốt việc tốt đã ra đời từ đây. Những điển hình về chiến đấu dũng cảm, lao động giỏi… đã từ đời sống đi vào trang sách, rồi từ trang sách lại trở ra đời sống với bao sức mạnh ca ngợi được chắp cánh bởi lao động chữ nghĩa của nhà văn. Chiến đấu cho nền độc lập, thống nhất đất nước và lao động xây dựng Tổ quốc XHCN là hai nhiệm vụ lớn mà lịch sử đã đặt ra đối với toàn dân tộc trong suốt giai đoạn này. Và, khi đã được lựa chọn với tư cách một công cụ tuyên truyền đầy sức mạnh, thì văn học, với thể loại chủ lực là tiểu thuyết, đương nhiên cũng phải tập trung toàn bộ vốn liếng của mình để phục vụ cho hai nhiệm vụ lịch sử nói trên. Phương tiện được biện minh bởi mục đích. Sự cắt xén hiện thực - dù là tự giác hoặc bất tự giác - trong tiểu thuyết giai đoạn này được chấp nhận một cách dễ dàng bởi những yêu cầu cấp thiết tối quan trọng của lịch sử, bởi sự tồn vong của dân tộc. Nhưng, đó là chuyện của một thời. Bước sang thời kỳ đổi mới, cách nhìn các vấn đề xã hội của tiểu thuyết gia Việt Nam đã khác rất nhiều. Và đó chính là cơ sở để ta có thể nói đến cái mới ở tiểu thuyết thời kỳ đổi mới.

Trong tâm lý hào hứng được nhìn thẳng vào sự thực mà nói, tiểu thuyết thời kỳ đổi mới gần như đã đặt một câu hỏi về sự tồn tại của phương pháp sáng tác hiện thực XHCN. Thực tại xã hội ở đây đựơc nhìn trong toàn bộ sự bề bộn và tính chất phức tạp đa chiều của nó. Thậm chí, trọng lực cái nhìn của  người viết lại nằm ở chính những “xung động thẩm mĩ nghịch chiều”, mà cảm hứng chủ đạo là phê phán, tố cáo (trong bài viết Nguyễn Quang Thân, nốt trầm của tiểu thuyết thời đổi mới, Báo Văn nghệ, ngày 7/10/2006, tôi gọi đây là sự phục sinh của chủ nghĩa hiện thực phê phán). Hàng loạt vấn đề xã hội từng là tabou  đã bị xuyên thủng. Hàng loạt tấm huy chương đã được nhìn ở mặt bên kia của nó. Hàng loạt mẫu nhân vật từng là điển hình, phẩm chất ngời ngời nay đã bị giải thiêng, hoặc ít ra, được nhận thức lại. Phải chăng đó không phải là cái mới? Hãy thử lấy vài ví dụ. Vấn đề Đảng - một vấn đề “bất khả tư nghị” trước đổi mới - chẳng hạn. Trong thực tế, hiển nhiên không phải cứ hễ ai là đảng viên cũng gương mẫu (không thì đã không có những vụ bị khai trừ ra khỏi Đảng, tất nhiên đây là thiểu số, dị biệt). Không phải bao giờ và ở đâu người ta cũng thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng với một sự chí công vô tư cần phải có. Nhưng phải đến thời kỳ đổi mới, trong tiểu thuyết mới có thể có đoạn đối thoại như sau: “Tao sẽ vào Đảng tháng ba năm nay, trước tháng ba thì hơi sớm, nhng sau tháng ba thì có lẽ muộn. Tháng ba là thời điểm mùi vị con buôn trong tao bốc hơi đến mức tao gần như trở thành người tinh khiết/ Nhưng vào Đảng đâu có phụ thuộc vào ý muốn của cậu/ Tao đã có tiền, tao có tự do và điều kiện. Rồi mày xem”. (Ngoài khơi miền đất hứa - Nguyễn Quang Thân). Ở tiểu thuyết Mê cung của Nguyễn Phan Hách, có một chi tiết li kỳ: nhân danh chủ trương “nhân sĩ yêu nước tập hợp lực lượng nhân dân đoàn kết xung quanh Đảng”, bà Đức Hạnh – xuất thân bần cố nông - đã dí súng bắt ông Quang Huy – vốn là công tử con quan Án sát – phải thành hôn với mình! Còn ở tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường, thì đã quá rõ: kẻ chiến thắng trong xung đột truyền đời giữa hai dòng họ ở nông thôn chính là kẻ nắm đựơc quyền lãnh đạo Đảng trong tay. Nói cách khác, sức mạnh quyền lực của Đảng đã bị lợi dụng!

Ví dụ 2: đề tài chiến tranh và nhân vật ngươì lính, một kiểu đề tài và một kiểu nhân vật quá quen mặt của văn học Việt Nam kể từ năm 1945. Thế nhưng, phải chờ đến Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh thì một nhận thức khác, mới hơn về chiến tranh mới có cơ hội lên tiếng: chiến thắng trong cuộc chiến đấu bảo vệ độc lập dân tộc và thống nhất đất nước là vinh quang, nhng sự huỷ hoại của chiến tranh thì không một vinh quang chiến thắng nào có thể che phủ hoặc làm mờ đi được. Không một lý tưởng cao cả nào có thể xoá được những chấn thương tâm lí khủng khiếp mà chiến tranh để lại trong đời sống tinh thần của những ngươì tham chiến. Nỗi buồn chiến tranh đã phải chịu rất nhiều búa rìu dư luận ngay khi nó xuất hiện trên văn đàn, nhưng may thay, nó cũng nhận được sự ủng hộ nồng nhiệt nhiều không kém. Chính sự ủng hộ này đã cho thấy, dù gì đi nữa, tác phẩm đã công khai cái nửa sự thật còn lại của chiến tranh mà trước đó nhà văn chúng ta không nhìn ra, hoặc nhìn ra mà không dám nói, cũng không có quyền nói. Về nhân vật người lính và cái mới của nó trong tiểu thuyết thời kì đổi mới, tôi muốn được bàn tới anh Giang Minh Sài trong Thời xa vắng của Lê Lựu, một nhân vật mà rất ít khi chúng ta thử xem xét nó với tư cách một người lính, dù người đọc không ai quên rằng Sài từng xung phong đi B chiến đấu và đã được tặng danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ. Thử đặt câu hỏi rằng tại sao Sài nhập ngũ, ta sẽ có ngay một câu trả lời khá cắc cớ, là vì rằng anh ta không muốn bị cô vợ mà gia đình ép hôn quấy rầy! Lại một sự thực nữa được công khai: có nhiều lí do để người ta

Page 74: Tieu Thuyet Nong Thon

vào quân đội, trở thành chiến sĩ vệ quốc, thậm chí thành anh hùng, và không phải bao giờ người ta cũng thực hiện điều đó chỉ với tinh thần yêu nước, với ý thức công dân trước vận mệnh quốc gia. Một sự hạ bệ người lính chăng? Tôi không cho rằng thế. Đây là một bổ sung cần thiết để chúng ta hình dung về người lính trong tính hiện thực của nó, trước hết, như những con ng-ười.

Qua một vài nét sơ lược kể trên, có thể nói rằng tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới hiển nhiên là có cái mới. Cái mới ấy bắt nguồn từ thái độ tích cực của nhà văn trong đời sống: không chấp nhận một nửa sự thực cũng có giá trị ngang bằng với một nửa cái bánh mỳ. Đó là một thái độ dũng cảm, thể hiện trách nhiệm công dân của nhà văn trong bối cảnh một xã hội đang vận hành trong quĩ đạo bình thường. Nó rất khác với trách nhiệm công dân mà nhà văn đã phải gánh vác suốt một giai đoạn lịch sử kéo dài 40 năm (1945 – 1986). Thế nhưng, tiểu thuyết thời kỳ đổi mới vẫn có cái không mới, thậm chí có thể nói rằng nó rất cũ nếu so với giai đoạn trước. Tôi muốn nói đến quan niệm tiểu thuyết và cách viết tiểu thuyết.

Viết tiểu thuyết tức là kể lại một câu chuyện, tiểu thuyết gia là người kể chuyện. Và người kể giỏi là người tạo được cho độc giả ảo tưởng vào tính hiện thực của câu chuyện mà anh ta đã kể, để từ đó, độc giả có thể cùng suy nghĩ, đồng tình hoặc phản đối, vui hoặc buồn, hy vọng hoặc thất vọng... trước những vấn đề xã hội đã được chuyển dịch vào tác phẩm tiểu thuyết. Có thể nói như vậy về quan niệm của các tiểu thuyết gia Việt Nam kể từ tác phẩm đầu tiên được gọi là tiểu thuyết xuất hiện ở xứ này, cho đến thời điểm 1986. Tiểu thuyết thời kỳ đổi mới về thực chất cũng không khác thế, nó chỉ là sự nối dài cái đã có mà thôi. Điều này được chứng minh bởi sự thống ngự vững chắc của hai yếu tố cơ bản làm thành một câu chuyện, đó là cốt truyện và nhân vật. Theo sự đọc của tôi, thì giống như toàn bộ tiểu thuyết giai đoạn trước, tiểu thuyết thời kỳ đổi mới chưa hề có tác phẩm nào dám phá huỷ cốt truyện và nhân vật, những khái niệm mà từ năm 1957 Alain Robbe Grillet đã dán lên cái nhãn “lỗi thời” (Vì một tiểu thuyết mới. Lê Phong Tuyết dịch. NXB Hội Nhà văn 1997). Đưa ra chi tiết này tôi không hề có ý cổ xúy cho việc đoạn tuyệt với cốt truyện và nhân vật khi viết tiểu thuyết, mà chỉ muốn nhấn mạnh rằng, trong thời kỳ đổi mới, về mặt quan niệm, tiểu thuyết Việt Nam vẫn dẫm đúng cái vết lõm của các giai đoạn trước, không có dấu hiệu của sự vùng quẫy để tìm một cách định nghĩa khác đi về thể loại này. Ở trên tôi có nói tới việc người viết tiểu thuyết chú trọng đến mục đích tạo cho người đọc ảo tưởng vào tính hiện thực của câu chuyện, từ đó mời gọi người đọc bộc lộ thái độ và cảm xúc của mình trước những vấn đề xã hội đã được chuyển dịch vào tác phẩm. Nếu diễn đạt cách khác, thì điều này có nghĩa là, không khác tiểu thuyết giai đoạn trước, tiểu thuyết thời kỳ đổi mới vẫn là sản phẩm của nguyên tắc phản ánh luận trong văn học. Và đây là mô hình tiểu thuyết đã đạt tới trình độ điển phạm ở thời đại của Balzac. Như vậy cũng có nghĩa là, nhiều mô hình khác trong lịch  sử của thể loại tiểu thuyết trên thế giới, nhiều khả năng khác cho sự phát triển tiếp tục của nó – mà Milan Kundera đã nói tới trong tập Nghệ thuật tiểu thuyết (Nguyên Ngọc dịch. NXB Văn học 1999) - đã “được” các tiểu thuyết gia thời đổi mới bỏ qua. Một sự bỏ qua đáng tiếc. Vì hẳn là không người viết nào lại không muốn tự xác lập mình như một cái gì khác hơn và mới hơn những gì đã có, nhất là khi anh ta sống trong thời kỳ được gọi là Đổi mới.   

Liên quan chặt chẽ đến quan niệm về tiểu thuyết là cách viết tiểu thuyết. Về mặt này thì tiểu thuyết thời kỳ đổi mới hầu như không có gì khác so với các giai đoạn trước, ở chỗ, cơ bản vẫn là cách viết “kể lại nội dung”. Trong bài Kể lại nội dung và viết nội dung, nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Hiến viết: “Trong cách tự sự kể lại nội dung, nội dung hầu như là có sẵn, đúng hơn thì khuôn khổ nội dung là có sẵn và cái nội dung sẽ được tạo ra theo khuôn khổ đó cũng hầu như là có sẵn, khuôn khổ có sẵn kéo theo những tình thế, cốt truyện có sẵn..., những mẫu người, cách ứng xử và kết cục có sẵn..., thậm chí cả những từ ngữ có sẵn... Như vậy nội dung này tuy chưa có nhưng cũng như là đã có tương đối ổn định trước khi viết, người viết đặt bút viết với tư cách kể lại nội dung ấy và công việc viết là tìm từ, đặt câu để biểu đạt nội dung”. (bài in trong Tự sự học – một số vấn đề lý luận và lịch sử. NXB Đại học Sư phạm. 2004). Đã rõ. Khi quan niệm viết tiểu thuyết tức là kể lại một câu chuyện, thì đương nhiên người viết – cũng là người kể – phải biết rất chắc chắn là mình muốn và sẽ kể cái gì. Cái được kể lại đã nằm sẵn trong đầu anh ta như một bộ khung, việc viết đơn giản chỉ là đắp da thêm thịt sao cho đầy bộ khung đó mà thôi. Ở giai đoạn trước, tiểu thuyết là những chuyện kể người tốt việc tốt, ở thời đổi mới, tiểu thuyết kể lại những việc mà chuyện kể người tốt việc tốt đã bỏ sót hoặc “lờ” đi. Cũng chỉ là “kể lại nội dung” mà thôi. Thật ra, theo sự ghi nhận của cá nhân tôi, tiểu thuyết thời đổi mới cũng có một vài trường hợp cho thấy đã xuất hiện cách tự sự  “viết nội dung”, theo nghĩa: “nội

Page 75: Tieu Thuyet Nong Thon

dung không có sẵn từ trước khi viết mà viết đến đâu thì nội dung hình thành đến đấy, viết không phải biểu đạt nội dung mà là sản sinh nội dung” (Hoàng Ngọc Hiến. Tư liệu đã dẫn). Đó là trường hợp của Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Trong sương hồng hiện ra của Hồ Anh Thái, Tàn đen đốm đỏ của Phạm Ngọc Tiến. Nhng như thế là quá ít. Sự đổi mới thực sự cho nghệ thuật tiểu thuyết có lẽ phải chờ ở chặng tiếp theo của hành trình đổi mới chăng?

Nguồn: Tạp chí Văn Nghệ Quân đội 

Các tác giả viết về HỒ BIỂU CHÁNH

(Lê trường Xuân trích dẫn)

Vũ Ngọc PhanNhà văn hiện đại - ( xuất bản lần đầu 1942 ) NXB Thăng Long, tái bản SG 1960.

Tiểu thuyết của họ Hoàng ( Hoàng Ngọc Phách, quyển Tố tâm ) chuyên về tả tình và giọng văn nhiều chỗ uỷ mị, cầu kỳ, không tự nhiên, còn tiểu thuyết của họ Hồ ( Hồ biểu Chánh ) chuyên về tả việc và lời văn mạnh mẽ, giản dị, nhiều chỗ như lời nói thường.

Thật thế, tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh là những tiểu thuyết đầy động tác, việc nọ việc kia dồn dập, gây cho người đọc những cảm tưởng kỳ thú. Màn „vợ chồng Sửu cải nhau“ (Cha con nghĩa nặng ) là một màn tuyệt khéo, tả cảnh các con của Sửu trước cái chết của vợ Sửu, cần phải có cây bút tài tình và có con mắt tinh vi.

Bằng Giang

Những mảnh vụn văn học - NXB Chân Lưu, SG 1974.

Trong văn học sử hiện đại, chúng tôi tiếc cho hai người: Trần Trọng Kim ( 1883-1953) và Hồ Biểu Chánh (1885-1958), một học giả và một tiểu thuyết gia đều là đồng bối .Rời địa hạt văn học để lạc bước vào chánh trị, cả hai đều rước lấy thất bại ít nhiều chua cay.

Khi hay tin ông Hồ Biểu Chánh ra làm đổng lý cho thủ tướng Nguyễn Văn Thinh chúng rôi không nghĩ rằng ông toan tính trục lợi, chuyển ngân làm giàu. Năm 1943, lúc còn làm hai tờ Nam Kỳ tuần báo và Ðại việt tân báo, có dịp qua nhà của Hồ Biểu Chánh bên Vĩnh Hội, nhà góc đường Nguyễn Khoái, Tôn Thất Thuyết lúc bấy giờ là nơi đổ rác của địa phương, thật hẻo lánh. Căn nhà nhỏ vách ván, không điện, không nước. . . .phía trước hẹp, kê một cái bàn nơi ông làm việc, tiếp khách, không trang hoàng chi hết.

Một con người đã quen một nếp sống bình dị như vậy, lại vì lợi lộc mà ra làm đổng lý văn phòng cho thủ tướng Nguyễn Văn Thinh hay sao?

Và hai tờ báo ông làm, tuy là báo trợ cấp, nhưng cả hai đều không có nhũng câu lố bịch như Nam Phong tạp chí.

Page 76: Tieu Thuyet Nong Thon

Bí quyết về kỹ thuật tiểu thuyết của HBC (tác giả từng bật mí với Bằng Giang): Dẫn câu chuyện từ nông thôn ra thành thị, hoặc ngược lại . Người nông thôn muốn biết việc thành thị còn người thị dân hiếu kỳ muốn biết qua hình ảnh đời sống nông thôn .

Phan Cự Ðệ:

Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại - Tập I NXB Ðại Học và Trung Học và TH CN, 1978 .

Tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh bao quát nhiều vùng thành thành thị và nông thôn rộng lớn của Nam Bộ, nhiều kiểu người thuộc các giai cấp khác nhau vào những năm sau đại chiến I .

Ưu điểm nổi bật nhất: Trực tiếp tố cáo những thủ đoạn lột tô tức của đia chủ, vạch được sự tha hóa của đồng tiền trong xã hội thực dân phong kiến, đối lập bọn giàu sang quyền thế tàn bạo.

Ðề cao những người nghèo tiền bạc nhưng giàu lòng nhân nghĩa, tinh thần phản kháng của những người lao động, khuynh hướng hiện thực của HBC gắng liền với khuynh hướng cải lương và khuynh hướng đạo lý.

Nguyễn Huệ Chi:

Từ Ðiển Văn Học -Tập I, NXB Khoa Học Xã Hội, 1983.

Ông bước vào văn đàn giữ lúc truyện ngắn, truyện dài bằng tiếng Việt hết sức vắng vẻ, và bằng năng khiếu sáng tác nhanh nhạy, sự mẫn cảm với việc phơi bày bộ mặt phức tạp của cái xã hội mà mình đang sống, ông sớm giành địa vị đáng kể trong số những cây bút tiểu thuyết ít ỏi ở miền Nam thuở bấy giờ.

Mạnh dạn sử dụng tất cả những hiện tượng xã hội vượt quá khuôn khổ đạo lý thông thường làm chất liệu chính cho tiểu thuyết, đó là bước biến đổi của thể truyện, dưới ngòi bút của ông.

Hồ Biểu Chánh đã vạch khá đúng tính cách bọn giàu sang, thống trị, không chỉ ở chỗ chúng vô luân, dâm ác, thất đức, chạy theo tiền bạc danh lợi, mà chúng còn giở nhiều thủ đoạn bốc lột tàn ác để làm giàu như cho vay cắt cổ, cướp ruộng. Ông cũng còn phần nào nhìn đúng diện mạo của lớp người nghèo, không chỉ ở tính tình thật thà chất phác, là nạn nhân của sự đè ép, áp bức, mà quan trọng còn ở chỗ, họ còn là những con người có tấm lòng nhân ái, cao thượng, biết giữ vững phẩm chất, đặc biệt, đôi khi cũng biết phản kháng, cho dù tự phát và liều lĩnh, để chống lại hành vi tàn ác của bọn giàu. Ông góp phần chuẩn bị cho sự hình thành chủ nghĩa hiện thực phê phán những năm sau đó, và ít nhiều cũng góp cho văn học dân tộc sắc thái riêng biệt của một ngòi bút Nam bộ sung sức thời cận đại.

Page 77: Tieu Thuyet Nong Thon

Nguyễn Thị Thanh Nhàn - Nguyễn Khuê - Trần Khuê

Sài Gòn-Gia Ðịnh qua thơ văn xưa - NXB TP Hồ Chí Minh, 1987.

Trong phần tiểu sử : Ông đã để lại một văn nghiệp đồ sộ và đa dạng với 64 tiểu thuyết, đoản thiên, 3 tập truyện ngắn, khoảng 200 bài thơ hậu hết là Ðường luật thất ngôn bát cú, 12 tuồng hát và nhiều tác phảm thuộc loại khảo cứu .

Là một trong số những tiểu thuyết gia tiên phong của Nam Kỳ, là cây bút văn xuôi sung sức bậc nhất và cách tân nhất ở giai đoạn 1913-1930 , ông đã có công đưa tiểu thuyết mới từ tình trạng phôi thai tiến lên giai đoạn thành lập và thịnh hành. Tác phẩm của ông là bức tranh trung thực về xã hội Nam Kỳ thời Pháp thuộc.

Trích từ quyển Ông Cử (đề tựa : Phố chợ Phú Nhuận , Bảng rao hát cải lương ), từ quyể n Từ hôn ( dề tựa Trong đêm chợ ) .

Hoài Anh- Thành Nguyên - Hồ Sĩ Hiệp

Văn học Nam Bộ từ đầu dến giữa thế Kỷ XX (1900-1954), NXB TP Hồ Chí Minh, 1988 .

Về tiểu thuyết Nam Bộ 1922-1945, phải nói đến tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh vì không những chiếm số lượng nhiều nhất (1922-1943 , 41 cuốn tiểu thuyết ) mà nội dung cũng vượt nhiều tác giả cùng thời . Ông là nhà văn Nam Bộ nổi tiềng khắp toàn quốc và là nhà tiểu thuyết Nam Bộ duy nhất được giới thiệu trong bộ sách phê bình văn học Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan .

Tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh có khuynh hướng luân lý, kết cục có hậu, thiện bao giờ cũng thắng ác.

Văn bình dị tự nhiên, có khi trơn tuộc như lời nói thường, nhưng cũng có nhiều đoạn tả cảnh tả người khá linh hoạt và khắc họa tính cách, tâm lý nhân vật tinh tế và sắc sảo .

Trần Văn Giàu - Trần Bạch Ðằng - Nguyễn Công Bình.

Ðịa Chí Văn Hóa Thành Phố Hò Chí Minh - Tập II - NXB TP Hồ Chí Minh, 1988

Hồ Biểu Chánh có làm thơ làm báo, song trước hết là nhà tiểu thuyết. Tác phẩm đầu tay là U Tình Lục, một truyện thơ dài 1.790 câu, viết năm 1909 xuất bản năm 1913 . Tuy nhằm chủ đích luân lý tác giả vẫn để cho hai nhân vật chính, sống vào cuối thế kỷ 19 được tự do luyến ái và có những hành động táo bạo ngoài khuôn khổ lễ giáo đánh dấu giai đoạn quá độ từ các truyện Nôm sang tiểu thuyết mới ( Nguyễn Khuê - Luận văn về Hồ Biểu Chánh )

Page 78: Tieu Thuyet Nong Thon

Sau U Tình Lục là Ai làm được, cuốn tiểu thuyết văn xuôi đầu tiên của HBC viết năm 1912 , nhuận sắc năm 1922 . Từ đó ông viết đều đều hơn 70 tác phẩm, gần chết vẫn còn viết tiểu thuyết Hy Sinh ( dở dang ).

Các truyện của HBC diễn ra ở Nam kỳ , khung cảnh có khi mở rộng đến miền Trung (Bức thư hối hận ), miền Bắc (Nặng gánh cang thường ).

Tiểu thuyết của ông là những bức tranh gia đình và xã hội miền Nam đặc biệt là giữa hai cuộc thế chiến.

Về bức tranh gia đình, HBC mô tả hầu hết phong tục gia đình Việt Nam thời Pháp thuộc, sự xung khắc giữa lớp người cũ và lớp người mới, về nhiều vấn đề mà gay gắt hơn cả là hôn nhân (quyền tuyệt đối của cha mẹ trong việc dựng vợ gã chồng cho con). Hôn nhân vụ lợi, bật đồng tín ngưỡng, trọng nam khinh nữ, đa thê, tranh giành gia tài con vợ chánh con vợ lẻ …Trong tiểu thuyết HBC cũng thấy tục „nôm“ tức là thuê một chàng trai đứng ra hỏi cưới một cộ gái đã lỡ chửa hoang (Nguyễn Khuê - Luận văn về Hồ Biểu Chánh)

Về bức tranh xã hội , HBC đưa vào tiểu thuyết nhiều hạng người như ông phủ, ông huyện, hội đồng, nghiệp chủ , hương chức, thanh niên trí thức tân học, thầy thông thầy ký, gái điếm … Ông nói về nông thôn nhiều hơn thành thị , về điền chủ khoét đẽo tá điền, giựt ruộng mua vườn của dân nghèo coi mạng người như cỏ rác.

HBC chỉ mô tả về dân nghèo nông thôn và thành thị, nhưng không đặt thành vấn đề chính trị xã hội. Ông không phải là một nhà cải cách.

Dù sao mấy chục quyển tiểu thuyết của HBC cũng tựa như một cuốn phim xã hội Nam Kỳ giữa hai cuộc chiến tranh thế giới một thứ sách tiểu bách khoa ghi chép vô số những điều có thực mà người sau cần biết. Giá trị tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh chính là ở chỗ nầy.

Về bút pháp văn chương HBC, Bình Nguyên Lộc cho rằng văn HBC không văn vẻ nhưng hay vì đã viết theo ý nghĩ của một người thường. Sơn Nam cho rằng cái hay của HBC là ở chỗ „văn chương quê mùa“, „văn chương không văn chương“.

Hồ Biểu Chánh là một trong số những nhà văn viết nhiều tiểu thuyết nhất xứ ta.

Nguyễn Quang Thắng.

Tiến trình văn nghệ miền Nam, NXB An Giang, 1990.

Tiểu thuyết HBC một thời đã làm mưa làm gió, không những ở các thành phố mà người đọc ở các thôn ấp xa xôi vẫn say mê đọc không biết chán.

Ðây là một bức tranh hiện thực đa dạng giúp bạn đọc toàn quốc thấy rõ bộ mặt thực của xã hội „miệt vườn“ Nam Bộ. Ðó là tính cách đa dạng, phong phú

Page 79: Tieu Thuyet Nong Thon

không những về chất lượng mà nghệ thuật, ngôn từ, tình cảm tâm lý của mỗi nhân vật trong sáng tác phẩm của ông.

Trần Bạch Ðằng

Ðọc lại tác phẩm của Hồ Biểu Chánh (Lời nói đầu quyển Cha con nghĩa nặng - NXB Tiền Giang tái bản)

Từ trước đến nay tôi vẫn phân biệt Hồ Biểu Chánh nhà văn với Hồ Văn Trung một quan lại. Giới nghèo được ông trân trọng đăc biệt. Câu chuyện nào của ông cũng hấp dẫn.

Tác phẩm của HBC không thuộc hệ thống cách mạng, nhưng về tính nhân bản thì chắc chắn không thể nào bị phủ nhận. Chừng đó thôi đã là đáng trân trọng rồi. Càng lâu về sau. ông trở thành nhà văn cổ điển của nền văn học Việt Nam & chắc chắn không phải nhiều nhà văn Việt Nam đương đại với chúng ta sống mãnh liệt và lâu bền được như vậy .

Trần Hữu Tá

Một vài cảm nghĩ nhân đọc lại tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh.Trong quyển Cha con nghĩa nặng - NXB Tiền Giang - tái bản

Năm 1985, giới văn học chúng ta đã quên không làm một việc nhiều ý nghĩa: Kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà văn Hồ Biểu Chánh . . . Chúng ta đã làm nghèo đi cái gia tài văn hóa vốn đốn đã không thật giàu có của dân tộc.

Hồ Biểu Chánh đã viết 134 cuốn sách đa dạng về thể loại. Tật cả đều thấm đậm sắc thái Nam Bộ không thể lẫn với vùng quê nào khác…Ngay cả những cuốn ông „Việt hóa“ tác phẩm nước ngoài.

Có thể coi ông là văn của nông dân Nam Bộ, của lòng mong muốn xác lập một mặt bằng nhân ái cho cuộc sống hằng ngày.

Bùi Ðức Tịnh

Những bước đầu của báo chí, tiểu thuyết và thơ mới (1865-1932). NXB TP Hồ Chí Minh, 1992.

„U tình lục“ - Ghi tác giả là Hồ Văn Trung, truyện thơ của Hồ Biểu Chánh. Câu chuyện tình giũa Lê Tấn Nhơn và Lâm Cúc Hương. Cúc Hương thuật chuyện nàng bị ép duyên, tỏ ý muốn nàng cùng Tấn Nhơn trốn đi. Tấn Nhơn không ưng thuận.

Hồ Biểu Chánh đã đổi mới loại truyện cổ điển bằng cách chọn nhân vật trong xã hội Việt Nam ở thời trước tác giả không lâu .

Page 80: Tieu Thuyet Nong Thon

Về phương diện văn học, mặc dầu thơ có nhiều câu chững chạc, khá trau chuốt nhưng sự mô phỏng quá sát sao một tác phẩm đã phổ biến rộng khiến U Tình Lục chưa vượt khỏi giai đoạn sáng tác ấu trĩ.

Tạp chí VĂN - TP CHM, Sồ 38 (12 .1994):

Sự siêng năng: Hồ Biểu Chánh làm công chức, mới về hưu hôm trước thì ngay hôm sau đã kê một cái bàn giấy ở nhà mình tại Vĩnh Hội để . . .viết văn . ..mỗi ngày hai buổi, y như khi còn làm công chức, không bỏ phí một ngày nào,

HBC có bệnh đau tim rất nặng &Người ông ốm yếu gầy gò, nhưng lúc nào cũng vui vẻ thung dung, không gấp không hoãn.

Khi HBC về quê nhà ở Gò Công, không có một chủ nhật nào mà không có xe của các chủ báo đua nhau xuống Gò Công thăm ông và mua tác phẩm. Mãi đến lúc ông từ trần, trên bàn viết còn bản thảo một tác phẩm viết dở dang .

Con đường mang tên Hồ Biểu Chánh ở Phú Nhuận đã từng tọa lạc ngôi nhà ông sống vào cuối đời.

Bình luận văn học

Vũ Tiến Quỳnh tuyển chọn, trích dẫn, NXB Văn nghệ TP HCM, 1998.

Hội thảo khoa học về nhà văn Hồ Biểu Chánh được tổ chức lần đầu tiên tại Tiền Giang vào hai ngày 17 và 18 - 11-1988.

Về mối quan hệ giữa con người và tác phẩm Hồ Biểu Chánh: Theo Gs Hoàng Như Mai, mấy ai đã hoàn thành một sự nghiệp đồ sộ như Hồ Biểu Chánh. Nếu không có cái thế của Hồ Văn Trung, chắc đâu Hồ Biểu Chánh làm được một sự nghiệp như thế.

Nên nói: Hồ Biểu Chánh phục vụ Hồ Văn Trung hay Hồ Văn Trung phục cụ Hồ Biểu Chá nh? Câu trả lời phải căn cứ vào tác phẩm. Cách nói thứ hai đúng với sự thật hơn. Công chúng trước kia và công chúng ngày nay đón nhận nồng nhiệt các tác phẩm của Hồ Biểu Chánh điều đó đủ đánh giá cái hành bằng văn chương của Hồ Biểu Chánh có giá trị tích cực như thế nào .

Về việc đánh giá sự nghiệp văn chương của HBC:

Thái độ của HBC là tìm cách dung hòa cái mới và cái cũ, theo ông cái mới và cái cũ đều có ưu điểm riêng của nó (Gs Nguyễn Lộc ).

Cái mới và cái hay của HBC là ông nói đạo lý đi kèm với nói chuyên đời (TS Lê Ngọc Trà )

Hồ Biểu Chánh khắc họa được nhiều khuôn mặt đầy tình nhân ái của tầng lớp nông dân nghèo ( Nguyễn Ngọc Thạch ).

Page 81: Tieu Thuyet Nong Thon

Chính do chú ý mô tả những biểu hiện bề ngoài nhiều hơn những biến chuyển bên trong tâm hồn nhân vật mà nhân vật của tác giả còn là người Nam Bộ và rõ là người Nam bộ. Tiếp thu có chọn lọc nhũng tinh hoa củ văn học phươg Tây, HBC đã góp phần khai sáng nền văn học hiện đại và cách tân thể loại tiểu thuyết.

GS Trần Văn Giàu: Sách HBC được nhân dân tán thưởng và hay ở chỗ nói lại những tiếng nói của dân, cái tấm lòng cùa dân , còn hay ở chỗ đạo đức, luân lý.

Nông thôn trong “Thần thánh và bươm bướm” còn đảo lộn ghê gớm hơn cả thời cải cách (*)

Thứ hai, 28 Tháng 11 2011 21:07 Hữu Thỉnh

BCH Hội nhà văn ý thức rằng nếu một nền văn học không có cỗ trọng pháo tiểu thuyết thì đó là một khoảng trống rất đáng sợ. BCH đã nhìn thấy vấn đề này và đã có ý thức chủ động để làm cho cái nền tảng của nền văn học được điều tiết, tạo điều kiện cho phát triển. Một trong những cách tạo điều kiện đó là tổ chức các cuộc thi tiểu thuyết. Đấy là một cố gắng rất lớn, liên tục của BCH, coi đó như là một phương hướng phát triển văn học để vừa có sự bao quát về chiều rộng, lại vừa có những điểm nhấn về chiều sâu. Khi Hội nhà văn phát động cuộc thi tiểu thuyết lần thứ nhất, nhiều nhà văn tỏ ý ngạc nhiên, cho rằng ai lại thi tiểu thuyết, các anh làm thế này là ảo tưởng, sẽ chẳng ai thi đâu! Nhưng chúng tôi vẫn làm. Càng làm càng thấy rằng chủ trương tổ chức thi tiểu thuyết là đúng đắn. Và bây giờ chúng ta sẽ tiếp tục bước sang cuộc thi tiểu thuyết lần thứ Tư. Ngay sau Tết, chúng tôi sẽ tổ chức hai trại sáng tác tiểu thuyết mời các nhà văn đến vùi mình làm việc nâng cao chất lượng. Cuộc thi tiểu thuyết lần thứ Ba vừa qua đã thành công đặc biệt, có sự mở rộng rất lớn về biên độ đề tài, vấn đề, không gian, thời gian, bối cảnh. Nhưng trong giải thưởng cuộc thi lần này có hai cuốn tiểu thuyết đặc sắc cập nhật nhất những vấn đề của cuộc sống hôm nay, chứng minh rằng khả năng cập nhật của văn học không thua báo chí. Đó là là “Lửa đắng” của nhà văn Nguyễn Bắc Sơn và “Thần thánh và bươm bướm” của nhà văn Đỗ Minh Tuấn. Nếu “Lửa đắng” mang màu sắc chính trị, nói về việc đổi mới hệ thống chính trị và quản lý, được đánh giá rất cao, thì “Thần thánh và bươm bướm” có chiều sâu khác là nền tảng văn hóa và nền tảng đạo đức, được viết bằng một giọng điệu giả tưởng và hài hước rất hiếm có.  Trong mấy chục cuốn tiểu thuyết được vào chung khảo thì “Thần thánh và bươm bướm” là cuốn tiểu thuyết duy nhất mang tính hài, vừa giả tưởng vừa châm biếm. Trong nhiều cuộc hội thảo tôi đã nói là khả năng châm biếm và hài hước của văn học chúng ta lâu nay ít, không có nữa. Cái bút pháp như của Vũ Trọng Phụng, của Nguyễn Công Hoan sau này không mấy ai kế tục một cách có thành tựu. Rất mừng là lần này chúng ta đã phát hiện được một tiểu thuyết bề thế của Đỗ Minh Tuấn, có cống hiến về giọng điệu và sắc thái tiểu thuyết. “Thần thánh và bươm bướm” đã  đề cập một vấn đề nhức nhối nhất, đó là vấn đề đạo đức xã hội, thể hiện ở sự săn đuổi đồng tiền ghê gớm nhất, bất cứ cái gì cũng có thể biến thành tiền, biến một vật vô tri vô giác thành thần thánh cũng chỉ vì đồng tiền, cuộc săn đuổi các bộ hài cốt không biết có hay không, cũng chỉ vì tiền! Có thể nói là chưa có bao giờ có cuộc đảo lộn như vậy! Chỗ này theo tôi là ghê gớm đấy! Một cuộc cách mạng tháng Tám, một cuộc cải cách ruộng đất hay một cuộc hợp tác hóa đều từng gây đảo lộn vì tác động vào thiết chế của nông thôn. Ở đây vẫn là làng quê như xưa, vẫn bình lặng như vậy, những cuộc săn đuổi lợi ích, săn đuổi đồng tiền không tác động vào bên ngoài, mà nó lặn sâu vào tâm lý, lặn sâu vào nhân cách, lặn sâu vào đạo đức làm đảo lộn xã hội

Page 82: Tieu Thuyet Nong Thon

từ ngay trong mỗi một con người. Những viên gạch lát về đạo đức, những hòn đá tảng về văn hóa đang bị thử thách.  Hôm qua xem lại “Thần thánh và bươm bướm” thì trong tôi xuất hiện một ý tưởng mà trước đây tôi chưa nhận thấy để nói trong lúc chấm chung khảo. Đó là tôi thấy cuộc thay đổi ở nông thôn lần này nó còn dữ dội hơn cả cải cách ruộng đất, hơn cả hợp tác hóa, hơn cả những việc khác. Nó đảo lộn xã hội. Hôm qua tôi có trộm nghĩ như vậy. Vì bất cứ cái gì có lợi là nó dựng lên thành thần thánh để kiếm lợi, sau đó nó lại phá bỏ. Đó là một phát hiện của Đỗ Minh Tuấn đấy! Chính vì thế mà, (cười) tôi xin có một điều sám hối muộn màng, nếu trước đây chúng ta hiểu sâu điều này thì có thể đưa cuốn này lên giải cao hơn.(Vỗ tay) Ý thứ hai của tôi là không phải Đỗ Minh Tuấn chỉ cập nhật vấn đề theo tính thời sự báo chí, mà đặt ra những vấn đề lâu dài, những vấn đề mà chúng ta không biết sửa lại bằng cách nào? Cải cách ruộng đất xong có thể có sửa sai, hợp tác hóa xong cũng có thể cải cách giao khoán. Còn những vấn đề xã hội trong sách này sửa thế nào, khó đấy! Sửa thế nào đây? Bởi vì bây giờ không nói đến các xung đột giai cấp nữa, mà nói tới xung đột giữa các nhóm lợi ích. Xung đột lợi ích của các nhóm mới là vấn đề quan trọng nhất hiện nay. Lợi ích nhóm đang trở thành cái chia rẽ, phân cách xã hội này một cách ghê gớm. Đây là vấn đề thời sự, vấn đề lâu dài mà anh Tuấn đặt ra trong cuốn tiểu thuyết là vấn đề cực nóng, chúng ta cần thảo luận sâu vấn đề này. Sắp tới,Hội nhà văn tổ chức hội thảo ở TP Hồ Chí Minh về vấn đề quan hệ văn hóa kinh tế, làm thế nào để điều chỉnh lại sự mất thăng bằng giữa văn hóa và kinh tế? Vấn đề quan trọng nhất là: Làm thế nào để có thể đưa đạo đức xã hội, đưa những chuẩn mực văn hóa vào đời sống xã hội để cho nó thấm sâu vào mỗi con người? Cuốn sách của anh Đỗ Minh Tuấn là một đề dẫn rất là sinh động cho cuộc hội thảo này. Ý thứ ba mà tôi muốn nói là, tác phẩm của Đỗ Minh Tuấn đưa chúng ta trở về một vấn đề rất cơ bản hiện nay là vấn đề về hệ giá trị. Có nhiều vấn đề bây giờ chúng ta có ý kiến khác nhau quá, có mặt là dân chủ nên những cái khác nhau là bình thường. Nhưng có nhiều sự khác nhau trở nên đối nghịch là vì có sự khủng hoảng về hệ giá trị, dẫn đến khác nhau về thước đo, về chuẩn mực. Tiểu thuyết của anh Tuấn cho thấy: vì theo đuổi đồng tiền nên thước đo bây giờ đã khác trước.  Có thể nói, tiểu thuyết của Đỗ Minh Tuấn là một tác phẩm mở, tâm thế nghệ thuật, không gian nghệ thuật, tư tưởng nghệ thuật đã được mở trên ba phương diện như vậy.  Hội thảo hôm nay là diễn đàn học thuật, mở ra tiến trình đổi mới văn xuôi, ấy là cái chúng ta đạt tới, đã thành công, hàm lượng trí tuệ cao.. Chúng ta đã thống nhất nhận định “Thần thánh và bươm bướm” là thành công của nhà văn đa tài Đỗ Minh Tuấn. Đó là câu chuyện về những vấn đề xã hội đang đặt ra: sự báo động nguy cơ “tận diệt văn hóa”; sự “xổng chuồng” của dục vọng… sẽ tiêu diệt mọi giá trị. Đỗ Minh Tuấn sử dụng thủ pháp châm biếm, giễu nhại, hài hước nhưng không chút khinh rẻ, đả kích, hạ thấp con người, đó chính là nét nhân văn. Nói về hình tượng nghệ thuật: ở đây bươm bướm là bươm bướm, là sản phẩm độc đáo trong sáng tạo của Đỗ Minh Tuấn chứ không phải sự du nhập từ đâu, chúng ta không nên áp đặt quan điểm nghệ thuật vào đây…Từ thành công của cuộc tọa đàm này, chúng ta có thêm bài học kinh nghiệm cho những cuộc thi tiểu thuyết sắp tới, là nên có song trùng giữa chung khảo và tọa đàm, làm được điều đó sẽ có được những tác giả được đánh giá đúng, xứng đáng với giá trị giải thưởng./.__________(*) Phát biểu tại Hội thảo về tiểu thuyết “Thần thánh và bươm bướm” của nhà văn Đỗ Minh Tuấn do Hội Nhà văn VN tổ chức ngày 25-11-2011.

DƯƠNG HƯỚNG SAU “BẾN KHÔNG CHỒNG”...                                                          

Page 83: Tieu Thuyet Nong Thon

                                                                                                                              Trần Thị Phương Thảo 

Cùng với Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường và Thân phận tình yêu của Bảo Ninh, Bến không chồng của Dương Hướng là một trong ba tác phẩm nhận Giải thưởng Hội nhà văn năm 1991; một Giải thưởng sáng giá, ghi nhận thành tựu văn học Việt Nam sau 5 năm Đổi mới. Sinh năm 1949, từng là công nhân Quốc phòng, rồi vào lính, trở về với công tác hải quan ở Quảng Ninh, Dương Hướng vào nghề viết ở tuổi 40, với tập truyện ngắn đầu tay Gót son (1989), thế mà chỉ một năm sau, với Bến không chồng (in năm 1990) nhận Giải thưởng Hội nhà văn (1991), Dương Hướng bỗng trở thành một tên tuổi, và quan trọng hơn, trở thành một gương mặt tiêu biểu trong công cuộc Đổi mới văn học vào nửa đầu những năm 90 thế kỷ XX.    Với tiểu thuyết Bến không chồng, Dương Hướng thuộc số người soi được một cái nhìn mới vào một đề tài vốn đã rất quen thuộc trong văn học Việt Nam sau 1945 là nông thôn và chiến tranh. Nông thôn trong và sau 30 năm chiến tranh, qua chân dung người lính và người phụ nữ. Những người lính từ chống Pháp như Vạn, và thời chống Mỹ như Nghĩa, với hy sinh ở chiến trường và vẫn tiếp tục những hy sinh khi trở về hậu phương. Thế nhưng nói hậu phương là nói đến nhân vật trung tâm là phụ nữ; bởi mọi gánh nặng ở hậu phương đều dồn lên vai người phụ nữ. Những cái “bến không chồng” trở thành một biểu trưng cho cuộc sống dân tộc trong cả một thời dài khi lớp lớp đàn ông - thanh niên đều ra trận. Với nhân vật trung tâm là Hạnh, Dương Hướng đã tạo dựng được hình tượng một phụ nữ có thể nói là “vượt trội” so với số đông những “chinh phụ” trong văn xuôi cả một thời dài chiến trận, thường chỉ mang khuôn mặt “ba đảm đang” gieo niềm tin cho người lính ở chiến trường. Bởi thử thách đặt ra cho Hạnh, không chỉ là những thử thách bên ngoài, mà còn là, hoặc chính là những thử thách bên trong, để vượt những rào cản ở chính mình. Hạnh đã không có được hạnh phúc làm vợ (với Nghĩa), thì vẫn có quyền được có con (với Vạn)... Qua nhân vật phụ nữ, dám vượt các lời nguyền, dám vượt mọi thanh kiến, dám đi tìm hạnh phúc riêng; với các quan hệ trong gia tộc và làng xã, như với mẹ là Nhân và với chú Vạn (người không vượt được thành kiến, để đến với Nhân, và nhận con với Hạnh); với Nghĩa (người chồng phải chịu hậu quả của chiến tranh); và rộng ra là cả với làng Đông - một đơn vị làng của đồng bằng Bắc Bộ, Dương Hướng đã tái hiện cho ta thấy một chặng đường dài dân tộc đã đi qua, với không phải chỉ với hệ quả của hai cuộc chiến tranh, mà còn là với bao rào cản và lầm lạc khác, từ đó mà nhận ra những mặt bi kịch và khuất tối mà cả một thời gian dài cho đến cuối thế kỷ mới có được sự dũng cảm và sáng suốt

Page 84: Tieu Thuyet Nong Thon

để nhìn lại.   Tiếp tục dòng chảy đến từ Mưa mùa hạ, Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng, Thời xa vắng của Lê Lựu,... Bến không chồng chỉ có thể là sản phẩm của một giai đoạn văn học mới được soi sáng bởi khẩu hiệu lớn của Đại hội Đảng lần thứ VI: “Nhìn thẳng vào sự thật...”. Cái kết thúc của Bến không chồng với đám tang Vạn, người lính trở về từ chiến trường Điện Biên năm xưa là một kết thúc ấn tượng, gợi biết bao bùi ngùi, không phải chỉ riêng cho một con người bất hạnh, với bao lầm lạc, mà còn là cho cả một thế hệ. Cuộc tiễn đưa Vạn, cũng có thể xem là cuộc tiễn đưa cả một quá khứ mà hiện thân là Vạn, để từ đây, con người hy vọng có thể thanh thản hơn mà đi tiếp.   Cuốn sách được ấn hành năm 1990, khi công cuộc Đổi mới diễn ra mới được 3 năm. Nghĩa là chỉ mới bắt đầu. Những người trong cuộc, như các nhân vật của làng Đông, kể cả tác giả, chưa dễ có được những hình dung cụ thể về con đường sắp tới.   Con đường đó sẽ có được hình hài của nó trong một cuốn tiểu thuyết khác, xuất hiện 15 năm sau.                                                  xx x

   Hơn 15 năm sau Bến không chồng, vào cuối 2007, Dương Hướng có tiếp Dưới chín tầng trời(1) - một tiểu thuyết có quy mô lớn về số trang (500 trang cỡ 14,5x22cm), có phạm vi bao quát rộng - theo dấu chân và hành trình của các nhân vật chính-phụ của làng Đoài mà đến khắp mọi miền đất nước, từ Bắc vào Nam, từ chiến trường về hậu phương, từ nông thôn ra thành phố, từ biên giới đến hải đảo, và còn là những cuộc vượt biển, ra nước ngoài... Theo chiều dọc của lịch sử, đó là cuộc sống của một cái làng với các gia tộc, và giòng họ gắn với xã hội cũ, với cách mạng, với hai cuộc kháng chiến, cho đến thời kỳ Đổi mới, và áp sát vào thời đất nước mở cửa, hội nhập hôm nay...     Độ rộng về không gian và độ dài về thời gian với số phận nhiều chục, thậm chí hàng trăm nhân vật, Dương Hướng cho dồn nén vào câu chuyện Dưới chín tầng trời. “Dưới chín tầng trời” - đó là chuyện của cõi nhân gian mênh mông, vô tận. Vậy thì biên giới của nó phải là ở đâu trong cấu trúc, tạo dựng của một người viết tiểu thuyết? Đó phải là sự sống và sức sống của nhân vật trong tính cách và số phận của nó. Mà nói tính cách và số phận là nói đến xương cốt và da thịt của nhân vật. Xây dựng một tiểu thuyết qua thế giới nhân vật “có xương có thịt”, Dương Hướng vẫn trung thành với cách viết truyền thống, ở thời điểm 2007, là năm tiểu thuyết ra đời. Một tiểu thuyết truyền thống - tức là một tiểu thuyết được xây dựng trên sự giao thoa, sự đụng độ, sự va dập trong quan hệ giữa các nhân vật và hệ nhân vật. Với

Page 85: Tieu Thuyet Nong Thon

Dưới chín tầng trời, đó là gia hệ Hoàng Kỳ, từ Hoàng Kỳ Bắc - địa chủ, qua Hoàng Kỳ Trung - sĩ quan quân đội, đến Hoàng Kỳ Nam - nhà báo; một gia hệ chìm nổi theo lịch sử. Đó là gia đình Đức Cường, một tư sản giàu có, có lòng yêu nước, bảo vệ cách mạng, bỗng rơi vào tận đáy của sự bất hạnh. Đó là thế giới gồm đủ mọi tầng lớp - những con người có gốc rễ ở làng Đoài như Đào Kinh với cái lý lịch cùng khốn dưới đáy rồi vươn lên hàng tỷ phú; cùng với những người có quan hệ với Kinh, như Vương - con trai, từ chiến trường về với cái chân què, như vợ là Cam - đi lại với Trần Tăng mà có con gái là Đào Thanh Măng rồi trở thành nhân vật trung tâm của thời mở cửa. Đó là mấy mẹ con Cháo, Muôi, Thìa, Muỗng là cốt cán trong Cải cách ruộng đất, rồi vẫn ăn nên làm ra bằng vốn tự có, trong thời mở cửa. Là những người cắm rễ ở làng như lão Khi, Câm, Lùn và Cảo chăn vịt... mà số phận vẫn không tách rời với tất cả những người đi xa, hoặc rất xa khỏi làng Đoài. Và hẳn chưa phải là cuối cùng - đó là người hùng Trần Tăng, vị cán bộ cao cấp, người tạo nên mọi vinh-nhục cho làng Đoài, sống và tiến thân bằng quyền lực và dục vọng.   Tất cả những con người ra đi từ làng Đoài, với nhiều nguyên cớ khác nhau, rồi trở về làng trong những thân phận khác nhau, có khi là một rẽ ngoặt 180 độ, từ thất cơ lỡ vận mà thành tỷ phú; từ giàu có, quyền cao chức trọng mà trở thành tay trắng; từ phế nhân mà thành chính nhân; hoặc từ tội nhân mà thành ân nhân, tất cả - dẫu có gốc gác từ một làng Đoài, mà đi khắp tứ xứ, và làm nên một thế giới thật là nhộn nhịp và sống động trong Dưới chín tầng trời.   Và một cuộc hội ngộ vào cuối truyện ở làng Đoài, khi làng Đoài được công nhận là Đơn vị Anh hùng, cho tất cả những người con sinh ra rồi trở về, hoặc bám rễ với đất này, cùng một đám tang bất ngờ dành cho Trần Tăng (cũng giống như đám tang Vạn trong kết thúc Bến không chồng) làm nên một hóa giải, hoặc một kết thúc “có hậu” - theo quan niệm nhân quả, của Dưới chín tầng trời với 3 Chương cuối trong tổng số 33 Chương, có tên: Ngày bình yên, Ngày hội, Con đường mới...      Dưới chín tầng trời ở thời điểm 2007, hơn 15 năm sau Bến không chồng có thể xem là một bước tiến, hoặc một vượt trội của Dương Hướng.    Chắc chắn cuốn sách rồi sẽ được bàn luận nhiều, với những đánh giá khác nhau, hoặc trái ngược nhau, từ những vấn đề mà tác phẩm đặt ra. Và có như vậy thì mới là biểu hiện bình thường của sự phát triển văn học. Điều chúng tôi muốn lưu ý ở đây là: nếu mở đầu thế kỷ XXI là sự xuất hiện một thế hệ viết mới ở lứa tuổi 7X đến 9X, với những tìm tòi ráo riết theo hướng của chủ nghĩa hiện đại hoặc hậu hiện đại phương Tây, như phá vỡ cốt truyện, như quan tâm đến tiểu tự sự (tức là các mảnh nhỏ) chứ không phải đại tự sự; như nhân vật chỉ còn là biểu tượng, chứ không còn là nhân vật- tính cách v.v...

Page 86: Tieu Thuyet Nong Thon

dường như chưa ăn nhập lắm với công chúng số đông, thì Dương Hướng, ở tuổi 60, vẫn tiếp tục với cách viết truyền thống; nhưng không nô lệ vào truyền thống mà vẫn có những cách tân nhất định, nên vẫn nhận được sự đón đợi của số đông độc giả.     Dưới chín tầng trời, một tiểu thuyết nằm trong giòng chảy và làm nên giòng chảy của văn xuôi đương đại./.                                                                  3.6.08  

Quá trình hiện đại hóa văn xuôi Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX – so sánh với một số nước trong khu vực Đông Nam Á Thứ hai, 15 Tháng 3 2010 16:20 Tôn Thất Dụng

                                                                 TÔN THẤT DỤNG(*)

 

   Văn xuôi Việt Nam có những đổi mới quan trọng vào những năm cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX. Cùng với sự phổ biến của chữ quốc ngữ trong đời sống, văn xuôi quốc ngữ bắt đầu hình thành và thử nghiệm ở những thể loại mới như tiểu thuyết, truyện ngắn, bút ký…Quá trình hiện đại hóa văn xuôi có những khác biệt ở Nam Bộ và Bắc Bộ. Các nhà văn Việt Nam trên cơ sở tiếp thu thành tựu của văn học phương Tây đã sáng tạo tác phẩm với những kỹ thuật viết mới, góp phần đưa văn học Việt Nam hội nhập với văn học các nước. Nhìn trong bối cảnh các nước trong khu vực, chúng ta vẫn nhận ra những nét tương đồng trong quá trình hiện đại hóa văn xuôi. Tiềm lực của mỗi nền văn học góp phần quan trọng vào tiến trình đổi mới văn xuôi của nước đó. Bài viết cung cấp một cái nhìn tổng quan về quá trình hiện đại hóa văn xuôi ở các nước trong khu vực Đông Nam Á như Vietnam, Indonesia, Malaisia, Singapore, Thailand, Philippine…

 

1. Văn học Việt Nam có những chuyển biến mới vào những năm cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX. Đây là chặng đường quan trọng trong quá trình vận động để chuyển đổi văn học, từ phạm trù trung đại sang phạm trù hiện đại. Gần 10 thế kỷ văn học phát triển trong bối cảnh giao lưu mang tính chất khu vực với những quy phạm riêng, do vậy, văn học Việt Nam vẫn có những khác biệt so với văn học ở nhiều nước. Văn xuôi dường như khó phát triển và ít thành tựu hơn văn vần.

Page 87: Tieu Thuyet Nong Thon

Văn học viết bằng chữ Hán và chữ Nôm tạo nên diện mạo riêng cho văn học Việt Nam lúc đó nhưng vẫn tiềm ẩn những khó khăn cho công chúng trong tiếp nhận. Đời sống văn học đã xuất hiện những yếu tố mới làm phá vỡ ít nhiều hệ thống quy phạm đã tồn tại khá lâu trong sáng tác cũng như tiếp nhận. Những quan niệm mới về thế giới và con người đã làm cho văn học tiếp cận với cuộc sống đa dạng và không ngừng biến đổi. Cái nhìn cụ thể, mới lạ đã làm cho văn học không còn bó hẹp trong những hiện tượng mang tính chất khuôn mẫu. Việc tìm kiếm những phương thức thể hiện mới trở thành một nhu cầu tất yếu để đổi thay đời sống văn học. Nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của bộ phận công chúng ở đô thị mới hình thành cũng không cho phép văn học cứ giữ mãi trong trạng thái “ đông cứng”( chữ của M. Bakhtine). Nói cách khác, nhu cầu cách tân văn học đã đặt ra với các nhà văn những nhiệm vụ mới với những yêu cầu khác biệt so với những chặng đường trước. Đây là giai đoạn mở đầu cho quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam nói chung và hiện đại hóa văn xuôi nói riêng. Nhìn trong mối quan hệ với văn học các nước trong khu vực Châu Á nói chung và Đông Nam Á nói riêng, có thể thấy, sự đổi thay văn học vẫn có những nét gần gũi, tương đồng và những khác biệt về quá trình vận động,  khả năng tiếp biến những yếu tố mới từ các nền văn hóa, văn học khác.

2. Thời trung đại, văn xuôi Việt Nam được xây dựng trên nền tảng tiếp thu văn xuôi của Trung Quốc với những đặc thù mang tính chất khu vực. Những thể loại văn xuôi này khó được tiếp nhận trong bộ phận công chúng rộng, vốn không tiếp xúc trực tiếp với các tác phẩm viết bằng chữ Hán. Bộ phận văn học thuộc loại hình tự sự viết bằng chữ Nôm, như các tác phẩm truyện thơ, được công chúng tiếp nhận dễ hơn, nhưng tư duy thơ ít nhiều lấn át tư duy văn xuôi.Văn hóa đọc vẫn chưa hoàn thiện theo hướng mở rộng khả năng tiếp cận tác phẩm của bộ phận công chúng mới. Những điều này ít nhiều đã được lý giải trong công trình của J. Schaffer và Thế Uyên[1]. Nhu cầu đổi mới văn xuôi đặt ra những yêu cầu chuyển biến mới kể cả nội dung phản ánh lẫn phương thức biểu hiện. Văn xuôi đang đòi hỏi sự đổi thay theo xu hướng hiện đại hóa và hội nhập với văn học thế giới. Những yếu tố nội sinh của đời sống văn học đã đủ mạnh để tạo ra những đổi thay trong tiến trình vận động của văn xuôi tiếng Việt. Trong bối cảnh đó, sự phát triển của chữ quốc ngữ vào những thập niên cuối thế kỷ XIX cũng tạo ra một hướng thử nghiệm mới cho văn xuôi tiếng Việt. Chữ quốc ngữ vốn đã thâm nhập vào đời sống văn hóa Việt ngay từ mấy thế kỷ trước, nhưng bị cô lập trong các hoạt động tôn giáo. Một vài tác phẩm mang tính chất ký sự như Sách sổ sang chép các việc của Philiphê Bỉnh (1822) cũng chỉ là những hiện tượng mang tính chất riêng lẻ và chưa tạo ra những cách nhìn mới về đời sống và văn học. Đến những thập niên cuối thế kỷ XIX chữ quốc ngữ có điều kiện phát triển rộng hơn trong đời sống của vùng đất Nam Bộ và văn xuôi quốc ngữ mới có những thử nghiệm. Những tác phẩm như Chuyến đi Bắc kỳ năm ẤT Hợi ( 1881), Kiếp phong trần(1882) của  Trương Vĩnh Ký, Truyện Thầy Lazaro Phiền (1887) của Nguyễn Trọng Quản như là những dấu hiệu cho quá trình hình thành bộ phận văn xuôi tiếng Việt ở vùng đất Nam Bộ. Văn học Nam Bộ mở đầu cho quá trình hiện đại hóa văn xuôi tiếng Việt, tạo khả năng mở ra một chặng đường mới cho các thể loại văn xuôi hiện đại. Ở phương diện này, những người đi tiên phong

Page 88: Tieu Thuyet Nong Thon

như Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của…đã tiếp thu những yếu tố cũ và vận dụng những yếu tố mới để tạo ra loại hình văn xuôi quốc ngữ vốn chưa quen với công chúng thời ấy. Những tác phẩm như Chuyện giải buồn( 1886), Chuyện đời xưa (1866) là một cách tiếp thu truyền thống để xây dựng văn xuôi hiện đại. Nhưng cuối thế kỷ XIX, trong đời sống của bộ phận văn học ở Nam Bộ vẫn còn tồn tại khá nhiều truyện thơ, loại truyện này lấy câu chuyện có trong thực tế để phản ánh. Văn xuôi quốc ngữ phải đến 1910 mới tiếp tục có những sáng tác mới của Trần Thiên Trung, Trương Duy Toản, Trần Nhựt Thăng…Và khi Hồ Biểu Chánh chuyển từ sáng tác truyện thơ sang truyện văn xuôi với tác phẩm Ai làm được ( 1912) thì văn xuôi quốc ngữ có điều kiện thử nghiệm rộng rãi hơn. Những tác phẩm tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh, Lê Hoằng Mưu, Phú Đức, Bửu Đình, Tân Dân Tử… đã thực sự làm cho văn xuôi tiếng Việt có những bước tiến mới về cả nội dung lẫn hình thức nghệ thuật. Có thể nói, văn xuôi Nam Bộ đã thực sự giữ vai trò tiên phong trong quá trình hiện đại hóa văn xuôi Việt Nam. Ở Bắc Bộ, chữ quốc ngữ được phổ biến muộn hơn, do vậy, văn xuôi quốc ngữ tham gia vào quá trình hiện đại hóa văn học cũng muộn hơn so với Nam Bộ. Trong quá trình hiện đại hóa văn xuôi ở Bắc Bộ, những thử nghiệm của thể loại truyện ngắn dường như xuất hiện sớm hơn tiểu thuyết. Những truyện ngắn đầu tiên đã xuất hiện trên tạp chí Nam Phong vào những năm 1917 trở đi. Những thử nghiệm của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu về thể loại  tiểu thuyết ít nhiều còn mang tính chất ngẫu hứng. Những tác phẩm tiểu thuyết đầu tay của Đặng Trần Phất, Trọng Khiêm, Nguyễn Trọng Thuật vẫn còn lưu dấu những yếu tố của văn xuôi thời trung đại. Và Tố Tâm( 1925) của Hoàng Ngọc Phách ra đời đánh dấu giai đoạn định hình của tiểu thuyết văn xuôi quốc ngữ ở Bắc Bộ. Những tác phẩm phản ánh hiện thực cuộc sống đương thời như Mồ Cô Phượng ( 1927- không rõ tác giả), Nho Phong (1928) của Nguyễn Tường Tam… đẩy nhanh quá trình hiện đại hóa văn xuôi tiếng Việt và góp phần vào tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam. Cũng cần lưu ý là ở thời kỳ này trên các tờ báo ở Bắc đã xuất hiện khá nhiều tác phẩm mang tính chất ký sự của Phạm Quỳnh, … góp phần tạo nên sự đa dạng của diện mạo văn xuôi tiếng Việt. Đến những năm 30 của thế kỷ XX loại hình văn xuôi tiếng Việt ở Nam Bộ không “tự vượt mình” nên thành tựu đạt được không nhiều như các sáng tác của các nhà văn ở Bắc Bộ. Văn xuôi tiếng Việt tiến nhanh trên con đường hiện đại hóa vào những thập niên 30, với sự phát triển của khá nhiều thể loại như truyện ngắn, tiểu thuyết, phóng sự, tùy bút,…Đến chặng đường này văn xuôi tiếng Việt đã đạt được những thành tựu nghệ thuật quan trọng với các sáng tác của Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Nam Cao, Nguyễn Tuân, Vũ Bằng, Nhất Linh, Khái Hưng…Có thể nói, văn xuôi tiếng Việt đã vận động với một nhịp độ nhanh để hội nhập với văn học các nước trong khu vực và trên thế giới. Các nhà văn trên cơ sở tiềm lực của văn học dân tộc đã tiếp thu nhiều yếu tố mới từ văn học nước ngoài để xây dựng một nền văn xuôi hiện đại, đáp ứng nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của bộ phận công chúng đô thị. Những bộ phận văn học nào biết phát huy truyền thống và tiềm lực văn học thì có thể tạo ra những thành tựu mới trong quá trình đổi mới văn học.Nói như Thelm B. Kintanar: “ Chúng ta thấy rằng những nhu cầu về văn hóa và lịch sử của bất kỳ nước nào ở đây đều có ảnh hưởng đến nguồn phát triển đó. Và  chúng ta tin là những hình thức hiện

Page 89: Tieu Thuyet Nong Thon

đại của tiểu thuyết Đông Nam Á không phải là những cấy ghép trực tiếp của phương Tây mà chúng có nguồn gốc trong mảnh đất quê hương bản xứ. Những hình thức này là những sản phẩm của mối quan hệ có tính chất thúc đẩy giữa nhu cầu đạt tới sự phát triển văn học hiện đại phù hợp với sự thể hiện của cuộc sống trong xã hội đang thay đổi và nhu cầu nhìn lại và tìm kiếm những mối ràng buộc với những truyền thống bản xứ, một kho tàng văn hóa của xã hội đó”.[ 4, 25].

3. Cũng cần lưu ý là quá trình hiện đại hóa văn xuôi tiếng Việt chịu sự tác động không nhỏ của các yếu tố của văn hóa, văn học phương Tây mới thâm nhập vào các nước trong khu vực Châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng. Những thay đổi về giao lưu văn hóa, sự ra đời cả báo chí quốc ngữ, sự xuất hiện của các tác phẩm dịch thuật từ văn học phương Tây, sự phát triển của ngành in và xuất bản cũng góp phần rất quan trọng trong tiến trình hình thành văn hóa đọc và văn học Việt Nam hiện đại. Những vấn đề này chúng tôi đã góp phần lý giải trong công trình Sự hình thành và vận động của thể loại tiểu thuyết văn xuôi tiếng Việt ở Nam Bộ giai đoạn từ cuối thế kỷ XIX đến 1932 [3]. Ở bài viết này chúng tôi chỉ lưu ý thêm về khả năng tiếp biến văn hóa phương Tây trong quá trình vận động của loại hình văn xuôi tiếng Việt ở Việt Nam. Dường như ai cũng thấy văn minh phương Tây, văn học phương Tây,( mà chủ yếu là văn học Pháp) có tác động sớm vào vùng đất Nam Bộ, vốn là một vùng đất trực trị theo chính sách cai trị của thực dân Pháp. Thế nhưng, ảnh hưởng của văn học phương Tây vào văn học Nam Bộ khó có điều kiện bén rễ  và ít để lại những dấu ấn đậm nét. Điều này một phần do sự “dị ứng” khi tiếp nhận trong trạng thái bị cưỡng bức giao lưu. Những cố gắng của các nhà văn chịu ảnh hưởng từ phương Tây trong việc truyền bá văn xuôi phương Tây vào vùng đất này ít mang lại những kết quả lớn. Do vậy, khi tiếp xúc với văn xuôi ở Nam Bộ thời kỳ cuối thế kỷ XIX- đầu thế kỷ XX chúng ta dễ dàng nhận ra âm hưởng của những hình thức xưa cũ của văn học cổ điển Trung Quốc. Điều này một phần quan trọng là do thị hiếu của công chúng qui định. Trong lúc đó, dù tiếp nhận văn học phương Tây muộn hơn – vào thập niên 20 của thế kỷ XX, nhưng văn học Bắc Bộ dễ dàng tiếp biến các yếu tố của văn học phương Tây nói chung, và văn xuôi phương Tây nói riêng, để xây dựng loại hình văn xuôi tiếng Việt. Cùng với sự phát triển của giáo dục, văn học quốc ngữ ở Bắc Bộ cũng có điều kiện để tiếp nhận nhiều yếu tố mới của văn xuôi phương Tây nhằm xây dựng nền văn xuôi mới. Hoạt động dịch thuật các tác phẩm văn xuôi phương Tây diễn ra rầm rộ hơn ở vùng đất này. Chính những hoạt động văn học theo mô hình phương Tây đã tác động đến quá trình hiện đại hóa văn học ở Bắc Bộ. Và bản thân bộ phận công chúng đô thị ở vùng đất này cũng mong muốn tiếp nhận những yếu tố mới từ phương Tây mang đến. Chính điều này đã tạo điều kiện cho văn học Bắc Bộ có quá trình hiện đại hóa văn học nhanh hơn vào những thập niên đầu thế kỷ XX. Có thể nói, tùy theo tiềm lực và khả năng sáng tạo của các nhà văn ở mỗi vùng đất mà quá trình hiện đại hóa văn học diễn ra với những tốc độ khác nhau. Cho dù đậm nhạt khác nhau, nhưng văn hóa văn học phương Tây cũng đã tác động và tạo ra nhiều đổi thay trong văn học ở các vùng đất này.

Page 90: Tieu Thuyet Nong Thon

4. Khi nghiên cứu về quá trình vận động và phát triển của tiểu thuyết hiện đại ở các nước trong khu vực Đông Nam Á Thelm Kintanar đã nêu ra những nhận định rất đáng được lưu ý: “ Chúng ta có thể nhận ra một số nhân tố cơ bản trong sự phát triển của tiểu thuyết hiện đại ở nhiều nước Đông Nam Á như:

a. Sự tăng cường quan hệ với phương Tây và sự gia tăng mối quan tâm tới nền văn hóa đó. Quá trình thực dân hóa của phương Tây ở nhiều nước Đông Nam Á là một tác nhân quan trọng trong mối quan hệ này. Thái Lan mặc dù không bị thực dân hóa, nhưng bị sức ép về chính trị và kinh tế cũng cảm thấy buộc phải làm quen với tư tưởng và văn hóa phương Tây.

b. Sự tồn tại của một số điều kiện xã hội như kết quả của mối quan hệ trên. Phần này, đặc biệt hơn, đề cập đến sự truyền bá kỹ thuật in ấn và sự phát triển của báo chí, việc mở rộng cơ sở giáo dục và sự phát triển của công chúng độc giả.

c. Sự tồn tại của những hình thức truyện kể truyền thống là mối liên kết những hình thức mới với truyền thống văn học bản xứ.” [ 4 , 3-4].

   Những nhận định khái quát trên đây giúp chúng ta nhận diện những điểm chung trong quá trình hiện đại hóa văn xuôi ở mỗi nước vào những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.  Tuy vậy, tùy theo tiềm lực của mỗi nền văn học mà quá trình vận động cũng như cách thức thể hiện của nền văn xuôi mỗi nước trong quá trình hiện đại hóa văn học vẫn có những khác biệt nhất định. Trong khuôn khổ của báo cáo này chúng tôi chỉ nêu những nét khái lược nhất.

   Tiểu thuyết Malay hiện đại có thể nói là bắt nguồn từ thể loại hikayat truyền thống, là thể loại truyện kể bằng văn xuôi mang tính chất lãng mạn. Ảnh hưởng chủ yếu  đối với sự phát triển của tiểu thuyết Malay hiện đại là tác phẩm của Abdullah      Bin Abdul Kadir Munshi (1797-1856). Ông đã đi giao du khắp quần đảo Malay và đã ghi lại những  gì quan sát được và những ý kiến phê phán của mình về xã hội Malay truyền thống trong hai tác phẩm Truyện của Abdullah và Cuộc hành trình của Abdullah. Cho đến những năm 1930, những cuốn tiểu thuyết sớm nhất đã bắt đầu xuất hiện. Một cuốn phỏng theo một tác phẩm Ai Cập: Truyện của Faridah Hanum của Syed Sheikh Al Hady xuất hiện vào năm 1926. Tác phẩm đề cập tới nhiều vấn đề xã hội đương thời. Năm 1929 còn xuất hiện cuốn tiểu thuyết Người bạn chân thành của Ahmad bin Adul Rashid. Những năm 1920 những truyện ngắn đầu tiên cũng đã xuất hiện trên báo chí Malay. Văn học Malay phát triển mạnh sau chiến tranh thế giới lần thứ II. Thelm Kintanar nhận xét:         “ Bức tranh hiện thực của tác phẩm về cuộc sống hằng ngày, sự giới thiệu đầy đủ hơn về tính cách và sự vắng bóng của một giọng nói mô phạm hoặc răn dạy là đặc điểm của trào lưu văn học mới. Đồng thời, trong sự phát triển của truyện ngắn thời kỳ này, Keris Mas nổi lên nhờ ở nhận thức thấu đáo và sắc sảo về bề sâu của xã hội Malay, thể hiện cho chúng ta thấy hiện thực như ông đã quan sát được” [ 4 ,7]. Tác giả cũng lưu ý khi nghiên cứu về văn học Malay: “ xã hôi Malay là một xã hội đa dân tộc và đa văn hóa. Người

Page 91: Tieu Thuyet Nong Thon

Malay bao gồm trên 50% dân số của bán đảo Malaysia, người Hoa gồm 35% và người Ấn Độ gồm 12%. Do đó văn học viết bằng tiếng Trung Quốc, Tamil cũng như bằng tiếng Anh của những người được học tiếng Anh “các nền văn học khu vực” này, mặc dù có thể bị coi như ở bên ngoài dòng văn học chính của Malaysia, nhưng không nên xem xét qua loa những gì mà chúng đóng góp cho sự hiểu biết của chúng ta cho toàn bộ kinh nghiệm của Malaysia.” [ 4,8].

   Những tiểu thuyết sớm nhất của Indonesia xuất hiện vào đầu những năm 1920. Cuốn Giằn vặt và đau khổ của Merari  Siregar ra đời vào năm 1921và cuốn Sitti Nubaja của Marah  Rusli ra đời năm 1922.  Những tác phẩm này miêu tả tình trạng nan giải của cá nhân giữa hai thế giới cũ và mới. Những tiểu thuyết nói trên đều được viết bằng tiếng Bahasa  Indonesia. Trong chiến tranh thế giới lần thứ II, trong thể loại hư cấu, nhà viết truyện ngắn Indrus đã nổi lên ở thời kỳ này và đã cách mạng hóa văn xuôi Indonesia. Phong cách súc tích, lối miêu tả hiện thực chủ nghĩa và các hình tượng cụ thể của ông ta đã in sâu vào đầu óc người đọc những ấn tượng không phai mờ về cuộc sống Indonesia trong thời kỳ Nhật chiếm đóng. Nhận xét về văn xuôi Indonesia Thelm Kintanar viết:  “ Những khuynh hướng trên trong tiểu thuyết Indonesia hiện đại biểu hiện một thực tế là khi các nhà tiểu thuyết Indonesia trở nên có cách nhìn và kỹ thuật tinh tế hơn, thì họ cũng trở nên rộng mở hơn đón nhận ảnh hưởng của văn học thế giới. Nhưng người ta chỉ có thể kết hợp những khuynh hướng này, đặc biệt là sự liên quan đến cái phi lý của khuynh hướng bí ẩn còn mạnh mẽ trong đặc điểm của nghệ thuật Java. Chứng minh yêu cầu đặt ra cho chương này là thể loại tiểu thuyết hiện đại của các nước được bàn tới ở đây không phải là vấn đề đơn giản sao chép lại một cách rõ ràng những hình thức của phương Tây mà là vấn đề các nhà văn địa phương sáng tạo lại những ảnh hưởng bên ngoài trong bối cảnh mang tâm trạng bản xứ, hình thành lại những ảnh hưởng này để thể hiện những quan điểm cá nhân như đã được hình thành bởi các nền văn hóa của riêng họ.” [ 4,12].

   Singapore là một xã hội đa chủng tộc và nhiều ngôn ngữ. Các nhóm dân tộc có những truyền thống văn hóa và văn học riêng biệt và tách rời nhau. Tiếng Trung Quốc được sử dụng trong cộng đồng người Hoa, tiếng Malay là ngôn ngữ dân tộc, tiếng Tamil phục vụ cho nhóm dân tộc Ấn Độ và  có một bộ phận sử dụng tiếng Anh. Năm 1919 một số tác phẩm được dịch ra tiếng Trung Quốc xuất hiện. Truyện ngắn và thơ Trung Quốc được dịch và giới thiệu. Dần dần xuất hiện các nhà văn viết về cuộc sống thực ở Singapore. Truyện ngắn viết bằng tiếng Tamil xuất hiện nhưng không nhiều. Văn học Malay ở Singapore chỉ bắt đầu thực sự vào năm 1965 khi nó tách khỏi Malaisia. Văn học viết bằng tiếng Anh xuất hiện muộn hơn nữa. Văn xuôi viết bằng tiếng Anh phát triển chậm chạp.

   Văn xuôi Philippin bắt nguồn từ những truyện kể truyền thống. Văn xuôi tôn giáo và đạo đức manh nha ngay từ đầu. Tác phẩm Ninay của Pedro Paterno được viết vào năm 1885. Cuốn  Noli Me Tangere (1887)  của Jose Rizal được coi như cuốn tiểu thuyết quan trọng đầu tiên của Philippin. Cuốn El Philibusterismo cũng như cuốn tiểu thuyết trên được viết bằng tiếng Tây Ban

Page 92: Tieu Thuyet Nong Thon

Nha và xuất bản ở Châu Âu, nhưng những tác phẩm này không nhằm trực tiếp vào độc giả Tây Ban Nha mà là viết cho người Philippin. Sự phát triển của tiểu thuyết sau đó chủ yếu bằng các thổ ngữ, đặc biệt là tiếng Tagalog.Tiểu thuyết ở chặng đường này phát triển theo hai xu hướng lãng mạn và nhận thức xã hội. Tình yêu, hôn nhân gia đình là những chủ đề chính trong tiểu thuyết của Veleriano Hermandez  Pena. Trong lúc đó Lope K.Santoe quan tâm đến cảnh ngộ của những tầng lớp dưới. Sáng tác của Faustino Aguilar và Lazaro Francisco kết hợp cả hai xu hướng trên. Truyện ngắn viết bằng tiếng Anh cũng xuất hiện sau đó. Manuel Arguilla viết về đời sống nông thôn. Ngoài ra còn có những tác phẩm của A.B Rotor và Francisco Arcellana. Năm 1940 xuất bản cuốn tiểu thuyết Mảnh đất quê hương của chàng của nhà văn Juan C. Laya. Kỹ thuật “dòng ý thức” cũng đã xuất hiện trong sáng tác của Doeracias A. Rosario.

   Ở Thái Lan, đồng thời với sự phát triển của báo chí cũng làm tăng thêm sự phát triển của tiếu thuyết bằng văn xuôi. Xuất hiện trên các trang báo là những hình thức khác nhau của các truyện viết bằng văn xuôi: truyện châm biếm, truyện răn dạy, câu đố và lời giải. Báo chí cũng cho in những bản dịch tác phẩm phương Tây như Vendetta của Marie Corelli xuất hiện dưới nhan đề Kuam Phayabat vào năm 1902. Cuốn Kuam Mai Phayabat ( Không trả thù) (1915) của Liam Winthupramanakun (viết để chống lại  tư tưởng của cuốn tiểu thuyết dịch nói trên) được xem là cuốn tiểu thuyết Thái đầu tiên. Truyện ngắn cũng bắt đầu xuất hiện vào năm 1900. Chủ đề chính vẫn là cuộc xung đột thành thị và nông thôn. Loại tiểu thuyết do người Thái viết và đề cập đến cuộc sồng Thái ra đời khó khăn hơn. Cuốn Sanuh Nuk ra đời năm 1886 nhưng còn non yếu về nghệ thuật. Tiểu thuyết Thái tiếp tục tiếp nhận tiểu thuyết Trung Quốc và tiểu thuyết phương Tây. Năm 1928,1929 xuất hiện 3 cuốn tiểu thuyết: Luk Phuchai( Một người chân thật) của Si Burapha, Sattru khong Chao Lan (Kẻ thù của cô ta) của nhà văn nữ Dokmai Sot, và cuốn Lakhon Haeng Chiwit (Trường đấu của cuộc đời) của Hoàng tử Akatdakoeng Raphiphat. Sau 1932 tiểu thuyết Thái tiến xa hơn theo hướng chủ nghĩa hiện thực và nhận thức xã hội. Nhà văn nữ K Sarangkanang viết cuốn tiểu thuyết Ying Khon Chu ( Gái điếm). Mailai Chupinit cũng viết nhiều tác phẩm về đề tài nông thôn. Sau thế chiến thứ II, tiểu thuyết tiếp tục vạch trần những cái xấu xa của xã hội và đi sâu vào tội phạm với các sáng tác của Si Burapha  và Seni Saowapong.

   Một cái nhìn tổng quan nêu trên cũng giúp chúng ta nhận ra những đổi thay của văn xuôi các nước trong khu vực trong bối cảnh văn hóa phương Tây thâm nhập mạnh mẽ vào môi trường phương Đông và tác động đến văn học mỗi nước.  Điều đáng nói là, ở mỗi nước,  các nhà văn đều thử nghiệm các tác phẩm văn xuôi và gắn với nhu cầu của công chúng bản xứ. Trong quá trình thử nghiệm ấy việc xác định quá trình tiếp biến các yếu tố ngoại lai sẽ mang lại diện mạo riêng cho văn học của mỗi nước. Văn học Việt Nam tiếp nhận văn học phương Tây, chủ yếu là văn học Pháp, vốn có rất nhiều thành tựu về văn xuôi trong thế kỷ XIX nên cũng hấp thụ được nhiều yếu tố làm tiền đề cho sự phát triển. Những thể loại văn xuôi tiếng Việt mới được thử nghiệm đầu thế kỷ XX nhưng đã nhanh chóng đạt được nhiều kết tinh nghệ thuât vào những năm 30 của thế kỷ XX. Văn

Page 93: Tieu Thuyet Nong Thon

xuôi tiếng Việt phát triển tạo ra một diện mạo mới cho văn học Việt Nam, loại hình tự sự phát triển đa dạng như loại trữ tình, văn xuôi và văn vần đều đạt những thành tựu  mới.

                                                                                Huế, tháng 10 .2009

                                                                                         TTD

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.John C.Schaffer và Thế Uyên (1994), Tiểu thuyết xuất hiện tại Nam Kỳ, Tạp chí Văn học,  Hà Nội, số 8, tr. 8-13.

2. Tôn Thất Dụng (1993), Thể loại tiểu thuyết trong quan niệm của các nhà văn Nam Bộ đầu thế kỷ XX, Tạp chí Văn học, Hà Nội, số 2, tr. 36-39.

3. Tôn Thất Dụng, Sự hình thành và vận động của thể loại tiểu thuyết văn xuôi ở Nam Bộ giai đoạn từ cuối thế kỷ XIX đến 1932, Luận án PTS. Ngữ Văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 1993.

4. Thelm Kintanar(1988), The Development of Modern Fiction in Southeast Asia- A Brief Survey, Seft and Society in Southeast Asian Fiction, Kim Keong Printing, England. P. 16-41. ( Bản dịch của Nguyễn Thị Khánh, in trong  Cái mới trong khoa học xã hội, Văn học và Ngôn Ngữ học, tập 5, Viện Thông tin KHXH, Hà Nội, 1992, tr.3 -25)

“Thuyền nghiêng” – vấn đề nông thôn được nhìn nhận từ nhiều

góc độ

(LV) - Là cuốn tiểu thuyết đầu tay, những tác phẩm truyện: "Thuyền

nghiêng” của nhà văn Dương Thị Nhụn lại được xem như là tác phẩm văn

xuôi viết khá chuyên nghiệp. Tác

phẩm đề cập đến vấn đề nông

thôn hấp dẫn, đáng đọc và

khuyến khích người đọc tìm hiểu

để thấy rõ hơn làng quê Việt với

bao sự thay đổi chóng mặt. Đâu

là nguyên nhân, sự tác động trực

tiếp... đang cần câu trả lời trong

tác phẩm.

Đến với cuốn tiểu thuyết “Thuyền nghiêng”, mỗi người trong chúng ta sẽ phải suy ngẫm sâu sắc về cuộc sống. Những gì được coi là bản tánh thiện của

Tác phẩm viết về đề tài nông thôn của nhà văn Dương Thị Nhụn.

Page 94: Tieu Thuyet Nong Thon

con người cần được khuyến khích, đó là những điều tốt đẹp nhất mà mỗi chúng ta phải hướng đến. Với lối viết mộc mạc, chân thành, nhà văn Dương Thị Nhụn đã đưa đến cho bạn đọc một cái nhìn không phiến diện mà cụ thể, cắt nghĩa rõ nét về thái độ sống của mỗi một nhân vật. Trong khi phim truyền hình lấy những hình ảnh được gọi là “nude” để khắc họa mặt xấu của xã hội đôi khi khi hơi thái quá, thì đọc những dòng văn trong tác phẩm “Thuyền nghiêng” bạn đọc sẽ có cùng quan điểm tinh tế, nhẹ nhàng mà cuốn hút.

Với 286 trang, tiểu thuyết “Thuyền nghiêng” của nhà văn Dương Thị Nhụn đã làm người đọc

không khỏi ám ảnh, bâng khuâng, Dương Thị Nhụn đã làm sống lại bối cảnh của một làng quê

Đông Phong đầy ma mị. Cái nét cổ hủ, phong kiến vẫn trùm lên một xã hội hiện đại. Những

nhân vật ngây ngô, đần độn, dốt nát, manh động, vụ lợi chỉ vì đói khát (nhân vật Vớ) là bóng

dáng của Chí Phèo thời hiện đại. Và một ông Hình với hai thằng con vô học lộng hành, tị hiềm,

đố kị, lưu manh, mưu mẹo, tàn nhẫn hoành hành giữa làng quê. Tự hào về cái họ Hoàng của

dòng tộc từng có cụ tổ (Hoàng Sang - là tiến sĩ thời phong kiến)… Sự tranh giành quyền lợi,

quyền lực… ranh giới giữa thiện – ác sẽ cùng đưa mọi người vào phần kết của tác phẩm để

hiểu rõ hơn về xã hội, đồng thời cũng hiểu hơn về trái tim của nhà văn có nhiều đề tài viết về

nông thôn Việt Nam.

Tác giả đã thu nhỏ xã hội trong một ngôi làng mà ở đó diễn ra biết bao những sự việc trong các

gia đình, dòng họ. Càng về cuối tiểu thuyết “Thuyền nghiêng” dẫn người đọc vào thế giới vừa

thực vừa ảo. Trong đó có một phần thế giới tâm linh con người. Tác giả đưa những chuyện tâm

linh đầy kỳ bí, huyễn hoặc mà độc giả cảm thấy như thước phim sống động hiện ra trên màn

hình ngay trước mặt. Phải chăng đấy là dụng công của tác giả muốn nhắc nhở con người không

được nghĩ rằng chết là hết. Tác giả nhắc nhở người trần mắt thịt phải biết sợ trước một thế lực

vô ảnh, vô hình. Tốt, xấu, lừa đảo, thiện ác có trời biết cả... Hầu hết số lượng sáng tác của nhà

văn đều thiên về giá trị sống của con người với việc đề cao tâm linh Việt. Đề tài này hiện đang

được rất nhiều công chúng chú ý và tìm hiểu.

Trong cuộc sống ồn ã và náo nhiệt thời hiện đại, một tác phẩm viết về làng quê Việt Nam thời

xưa bỗng trở nên “quý và đắt”. Tác phẩm “Thuyền nghiêng” được xem là món quà nhân văn

hết sức có ý nghĩa.

Xuyên suốt những trang viết, nhà văn muốn gửi gắm một thông điệp: Đó là làm thế nào để bảo

tồn và phát huy văn hóa dòng họ trước thử thách ngày càng gay gắt của sức mạnh đồng tiền

và sự phân hóa giàu nghèo đang len lỏi vào tận các dòng họ, làm xói mòn tập tục tốt đẹp từ

bao đời trong dòng họ nói riêng, làng quê nói chung.

Mặc dù cũng có nhiều nhà văn cũng phản ánh đề tài về nông thôn Việt Nam, song “Thuyền

nghiêng” của nhà văn Dương Thị Nhụn” vẫn gợi mở một góc nhìn khác, mới mẻ, cuốn hút độc

giả.

“Thuyền nghiêng” của nhà văn Dương Thị Nhụn do Nhà xuất bản Quân đội nhân dân phát hành

năm 2011. Hiện là một trong những cuốn sách được mọi người rất quan tâm và yêu thích. Cùng

đón đọc lại cuốn tiểu thuyết góc cạnh của nhà văn để hiểu hơn về nông thôn Việt Nam.

ĐỜI SỐNG VĂN NGHỆ

Page 95: Tieu Thuyet Nong Thon

THỜI ĐẦU ĐỔI MỚI 

 

Tư liệuLẠI NGUYÊN ÂN và NGUYỄN THỊ BÌNH

Sưu tầm và biên soạn

LỜI DẪN 

Phong trào đổi mới, khởi lên ở Việt Nam giữa những năm 1980, đã đưa tới những đổi thay rõ rệt và đáng kể nhất trong đời sống kinh tế xã hội của đất nước vài chục năm nay, từ những năm cuối thế kỷ XX sang những năm đầu thế kỷ XXI.

Đời sống văn hóa xã hội cũng chịu ảnh hưởng của công cuộc đổi mới, tuy không phải bất cứ ai cũng dễ dàng chấp nhận những đổi thay ở lĩnh vực này do những tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của tiến trình đổi mới gây nên.

Điều thấy rõ là số đông văn nghệ sĩ đã hưởng ứng phong trào đổi mới ngay khi phong trào được Đảng cộng sản Việt Nam phát động. Nhưng con đường đổi mới không phải chỉ được nghĩ ra một lần là đủ, không phải chỉ được định ra một lần là xong. Ngược lại, quan niệm về đổi mới luôn luôn được bổ sung, điều chỉnh; thực tiễn đổi mới luôn luôn được "nghiệm thu", phân tích. Và điều này tác động không chỉ đến hoạt động kinh tế xã hội mà còn đến cả các hoạt động văn hóa văn nghệ. Vì lẽ đó và nhiều lẽ khác nữa, bức tranh đời sống văn nghệ ở nước ta, kể từ thời đổi mới, đã trở nên đa tạp đa sắc đa diện hơn trước.

Trên chỗ đứng của hôm nay nhìn lại, từ đổi mới khởi lên đến nay, lượng thời gian đã trải vài chục năm. Dấu ấn cuộc đổi mới in lên đời sống văn nghệ Việt Nam đã có thể được quan sát và ghi nhận từ góc độ văn học sử (hoặc văn hóa sử). Người ta đã có thể, hơn nữa đã có lúc thấy cần nhìn lại những lĩnh vực nhất định của đổi mới như một thứ quá khứ, dù là quá khứ rất gần, để làm một sự "tổng kết sơ bộ", để thuyết phục nhau về hướng đi đúng cần tiếp tục, để làm

Page 96: Tieu Thuyet Nong Thon

rõ ra những việc thiết yếu còn chưa kịp làm nhưng chắc chắn không thể không làm nếu muốn đi tiếp con đường đổi mới v.v...

Công trình này được biên soạn chính là trong nỗ lực tập hợp tài liệu báo chí đương thời khả dĩ giúp hình dung ít nhiều diện mạo đời sống văn nghệ ở Việt Nam thời đầu đổi mới, từ giữa những năm 1980 đến giữa những năm 1990. Bắt tay vào công trình tập hợp những tư liệu vào loại còn "tươi mới" này, những người sưu tầm biên soạn tuy ít khi gặp phải loại khó khăn thông thường là thiếu nguồn tài liệu (nhưng cũng cần nói rằng, nhân làm công việc này, chúng tôi cũng được mục kích tình trạng các bộ sưu tập báo chí trong nước những năm 1985-1995 tại các trung tâm lưu trữ lớn hiện cũng đã bị mất mát hoặc thiếu số, lẻ bộ, v.v...), song không hiếm khi lại lâm vào trạng thái bị ngợp trước sự đa tạp của tư liệu; một khi số lượng tư liệu quá nhiều với dung lượng quá lớn, nếu người sưu tầm biên soạn non tay, công trình tư liệu sẽ giống như khu rừng rậm, dễ khiến chính mình và sau đó là người đọc bị lạc lối, mất hướng.

Cố nhiên việc tìm lại các văn bản những bài từng đăng báo cách nay mươi, mười lăm năm, bây giờ đã không phải là chuyện dễ. Các bài vở được sưu tầm và tập hợp trong cuốn sách này, chủ yếu là kết quả của hai đợt sưu tầm: đầu tiên là chị Nguyễn Thị Bình cùng một số sinh viên, nghiên cứu sinh của chị tiến hành sưu tầm suốt ba tháng cuối 2005 đầu 2006. Chính nguồn gần 200 tư liệu thu được ban đầu này đã là cơ sở để tôi phác ra và dựng nên một khung sườn sơ bộ cho công trình tương lai, sau đó tiếp tục đọc thêm tìm thêm, mỗi lần tìm thêm tài liệu mới là mỗi lần đem lại những sửa đổi và bổ sung cho cái khung sơ phác ban đầu, làm tăng dần dần chiều dày cho cuốn sách tương lai trên bản sắp chữ vi tính. Trên đường tìm tòi tài liệu cho công trình này, tôi đã được một số bạn nhà báo nhà văn chỉ cho những nguồn tài liệu chưa có hoặc chưa biết; nhân đây xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành về sự giúp đỡ ấy.

Trong việc dàn dựng công trình này thành một bộ sách, điều tôi quan tâm là phân chia khối lượng tư liệu khá lớn đã sưu tầm được thành những cụm nhỏ, dựa theo một vài đề tài hoặc chủ đề nhất định mà các bài viết ấy đề cập; do vậy mà các tư liệu được sắp xếp trong các phần, các đoạn, lớn hoặc nhỏ. Các phần các đoạn ấy cố nhiên là tương ứng với một vài ý tưởng trình bày và phân tích quá trình văn học từ phía người biên soạn. Điều đó có nghĩa là cũng với những tư liệu ấy, một người biên soạn khác hẳn sẽ làm khác; và mỗi tư liệu trước sau vẫn cứ là mỗi tư liệu độc lập. Tôi hiểu rằng, người biên soạn không nên và không thể đưa lời thuyết minh của mình vào mỗi tư liệu, nhưng có thể đặt thêm một vài "lời dẫn" vào trước mỗi cụm tư liệu mà mình đã nhóm lại; những lời dẫn ấy, xin được chấp nhận như là điều cần thiết của việc tổ chức cuốn sách. Cố nhiên phải nói lại rằng các giới hạn phân chia và gom nhóm thành "phần"

Page 97: Tieu Thuyet Nong Thon

thành "đoạn" như vậy chỉ là tương đối và ước lệ; mỗi bài viết trước sau vẫn là một tư liệu độc lập.

Tất cả các bài sưu tầm đưa vào sách này đều lấy từ nguồn báo chí xuất bản và phát hành tại Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh hoặc các tỉnh thành khác trong nước từ giữa những năm 1980 đến giữa những năm 1990. Số lượng bài sưu tầm khá lớn, số lượng tác giả có bài được sưu tầm vào sách này cũng khá lớn, vì vậy những người sưu tầm và biên soạn công trình này không thể liên lạc xin phép từng tác giả trước khi ra sách. Chúng tôi mong rằng các vị và các bạn có bài từng đăng báo, tức là từng tham dự đời sống văn nghệ những năm tháng nói trên, sẽ không phản đối việc những bài vở đó được tập hợp lại trong sưu tập này, − một sưu tập có mục tiêu là tập hợp càng đầy đủ càng tốt (dù biết chắc khó mà có thể đầy đủ) nguồn dư luận báo chí đương thời, là cái chứng từ còn lại cho thấy diện mạo của đời sống văn nghệ những năm tháng đã qua. Hơn thế, chúng tôi còn mong muốn rằng, cuốn sách tư liệu ra mắt lần đầu này sẽ được các vị và các bạn có quan tâm đóng góp ý kiến và mách bảo cho chúng tôi những nguồn tư liệu còn thiếu, cần phải bổ sung thêm để sưu tập này sẽ đầy đủ và hoàn chỉnh hơn nữa khi có dịp tái bản.

Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc gần xa.

Hà Nội, tháng Mười 2006 

LẠI NGUYÊN ÂN

PHẦN MỘT

Tiểu dẫn

Trong phần này Sưu tập muốn phản ánh những tiếng nói hưởng ứng đổi mới khi phong trào được phát động tại Đại hội VI Đảng cộng sản Việt Nam.

Sự kiện được giới văn nghệ sĩ thừa nhận như biểu tượng là cuộc gặp giữa Tổng Bí thư Đảng Nguyễn Văn Linh với một số đại biểu văn nghệ sĩ. Tuyên bố "cởi trói" cho văn nghệ mà người đứng đầu ban lãnh đạo Đảng tuyên bố tại cuộc gặp gỡ này được xem như lời phát động cho phong trào đổi mới văn nghệ.

Đoạn đầu của phần này gồm bài tường thuật cuộc gặp gỡ nói trên, bản ghi bài nói của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, các bài phát biểu của văn nghệ sĩ, trí thức tham gia cuộc gặp gỡ đó.

 

Page 98: Tieu Thuyet Nong Thon

1. Hai ngày đáng ghi nhớ mãi   (Văn Nghệ, 17-10-1987) - Tường thuật cuộc gặp gỡ của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh với gần 100 văn nghệ sĩ trong hai ngày 6 và 7 tháng 10 năm 1987

2. Đồng chí Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh nói chuyện với văn nghệ sĩ  (Văn Nghệ, 17-10-1987)

3. Hồ Ngọc: Cần giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa văn nghệ và chính trị (Văn Nghệ, 21-11-1987)

4. Nguyễn Quang Sáng - Những điều cần cho văn học 5. Nguyên Ngọc - Cần phát huy đầy đủ chức năng xã hội của văn học nghệ thuật (Văn

Nghệ 31-10-1987)6. Nguyễn Hồng Phong - Để văn nghệ ta có được nhiều đỉnh cao và phong phú (Văn

Nghệ 5-12-1887)

TIỂU DẪN

Trên thực tế, giới văn nghệ sĩ lên tiếng về đổi mới từ khá sớm, từ đầu những năm 1980, khi họ, trên thực tế, đã tham gia cuộc tranh luận có quy mô rộng về kinh tế, xã hội bằng các sáng tác phim truyện, phim tài liệu, kịch, phóng sự, tiểu thuyết... Khi Đảng chuẩn bị Đại hội VI với việc phát động "đổi mới tư duy, nhìn thẳng vào sự thật", hầu hết văn nghệ sĩ đã hưởng ứng tích cực và đồng thời tìm thấy ở đấy con đường đưa sáng tác văn nghệ thoát khỏi tình trạng trì trệ và công thức, giáo điều.

Dưới đây, những người làm Sưu tập này tập hợp những phát biểu của văn nghệ sĩ, trí thức trên một số tờ báo của giới văn nghệ từ đầu năm 1987 đến trước Đại hội Hội nhà văn Việt Nam lần thứ IV, cuối năm 1989. Các phát biểu này xuất hiện trên báo chí đương thời trong các loại bài mục khác nhau, có khi trực tiếp là bài viết của các tác giả, có khi là trả lời phỏng vấn do các phóng viên ghi lại, v.v... song đều cho thấy những suy nghĩ của mỗi người với tư cách là văn nghệ sĩ, trí thức, về nhu cầu đổi mới, về nội dung đổi mới trong văn hóa văn nghệ.

 

7. Hà Xuân Trường - Văn học, nghệ thuật trong đổi mới tư duy (Văn Nghệ 1-1987) 8. Lưu Hữu Phước - Suy nghĩ về đổi mới tư duy trong công tác văn hoá nghệ thuật

(Văn Nghệ 1-1987)9. Nguyễn Tuân - Nhìn thẳng vào sự thât, nói đúng sự thật sẽ có nhiều tác phẩm hay

(Văn Nghệ 17-1-87)10. Nguyên Ngọc - Đổi mới trước hết là sự tỉnh táo (Văn Nghệ 17-1-87) 11. Hoàng Ngọc Hiến - Trước hết là đổi mới cách nhìn (Văn Nghệ 17-1-87) 12. Nguyễn Minh Châu - Muốn làm ăn phát đạt thì phải coi trọng người trực tiếp sản

xuất (Văn Nghệ 17-1-87) 13. Hồng Chương - Đổi mới nhận thức về sứ mệnh lịch sử của văn nghệ (Văn Nghệ 31-

1-87)14. Ngô Ngọc Bội - Đổi mới tư duy là cuộc cách mạng tự thân (Văn Nghệ 31-1-87) 15. Hữu Thỉnh - Đổi mới để hay, để làm sáng rõ bản sắc (Văn Nghệ 17-1-87) 

Page 99: Tieu Thuyet Nong Thon

16. Trần Độ - Những quan điểm về văn hoá văn nghệ trong Đại hội Đảng lần thứ VI (Văn Nghệ 7-2-87)

17. Phan Tứ - Băn khoăn của một người vào Quốc hội (Văn Nghệ 4-7-87)18. Nguyễn Khải - Nhà báo (Văn Nghệ 4-7-87) 19. Ngô Thảo - Khi thực tiễn lên tiếng (Văn Nghệ 4-7-87) 20. Phạm Tiến Duật - Đứng trong lớp người hàng đầu của công cuộc đổi mới (Văn

Nghệ 4-7-87) 21. Lê Lựu - Điều quan trọng lúc này là trung thực và trung thực (Văn Nghệ 4-7-87)  22. Nguyên Ngọc - Về cái tiêu cực và cái tích cực (Văn Nghệ 18-7-87)23. Nguyễn Khắc Viện - Câu chuyện cũ mới (Văn Nghệ 25-7-87)24. Nguyễn Văn Bổng - Cái mới trong văn nghệ (Văn Nghệ 1-8-87)25. Thanh Tịnh - "Những việc cần làm ngay" (Văn Nghệ 15-8-87)26. Nguyễn Trọng Oánh - Vài ý kiến tản mạn (Văn Nghệ 15-8-87)27. Nguyễn Văn Hạnh - Đổi mới tư duy, khẳng định sự thật trong văn học nghệ thuật

(Văn Nghệ 15-8-87) 28. Thanh Thảo - Thơ - can đảm và đoàn kết (Văn Nghệ 22-8-87)29. Nguyễn Bùi Vợi - Hình thức và nội dung (Văn Nghệ 29-8-87)30. Nguyễn Duy - Phỏng vấn cụ Nguyễn Tuân (Văn Nghệ 29-8-87) 31. Giang Nam - Cần một đại hội thật sự dân chủ (Văn Nghệ 5-9-87)32. Vũ Tú Nam - Cần có sự tổng kết dân chủ và khoa học (Văn Nghệ 5-9-87) 33. Bùi Minh Quốc - Cuộc sống hôm nay và trách nhiệm của thơ (Văn Nghệ 12-9-87) 34. Huy Phương - Tiếng nói của văn học (Văn Nghệ 12-9-87) 35. Trần Văn Giàu - Mấy đề nghị (Văn Nghệ 19-9-87)36. Lê Đình Kỵ - Ôn cũ để đổi mới (Văn Nghệ 19-9-87)37. Tô Hoài - Cần có những giải thưởng văn học (Văn Nghệ 25-9-87)38. Phạm Hổ - Trở lại vấn đề thái độ xã hội (Văn Nghệ 3-10-87)39. Văn Hồng - Không thể mặc kệ chúng nó! (Văn Nghệ 3-10-87)40. Phan Hồng Giang - Nên có một nghĩa trang dành cho các nhà văn hoá (Văn Nghệ

10-10-87)41. Nguyễn Kiên - Để tạo nên những giá trị tinh thần (Văn Nghệ 10-10-87)42. Trần Độ - Đôi điều tâm sự (Văn Nghệ 24-10-87)43. Võ Trần Chí - Dự báo và chuẩn bị tư tưởng cho những biến đổi xã hội rộng lớn

(Văn Nghệ 31-10-87) 44. Vân Long - Nghĩ về thơ hôm nay (Văn Nghệ 21-11-87) 45. Nguyễn Minh Châu - Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa (Văn

Nghệ 5-12-87) 46. Lại Nguyên Ân - Để có cái mới... (Văn Nghệ 9-1-88) 47. H. N. - Hội thảo văn học ở Bình Trị Thiên (Văn Nghệ 9-1-88) 48. Hoàng Phủ Ngọc Tường - Lẽ công bằng (Văn Nghệ 9-1-88) 49. Xuân Hoàng - Hãy tự cứu mình! (Văn Nghệ 23-1-88) 50. Hoàng Vũ Thuật - Bản lĩnh của sự lựa chọn (Văn Nghệ 23-1-88) 51. Nguyễn Trọng Tạo - Cái giá của văn học (Văn Nghệ 23-1-88) 52. Hồng Nhu - Vẻ đẹp của nỗi đau buồn trong thơ (Văn Nghệ 23-1-88) 53. Lại Nguyên Ân: Cơ chế hành chính quan liêu bao cấp và hoạt động văn hoá văn

nghệ (Nhân Dân 31-1-1988)54. Hồ Ngọc Đại - Có dám làm một cuộc cải cách giáo dục thật sự? (Văn Nghệ 20-2-

1988)

Page 100: Tieu Thuyet Nong Thon

55. Xuân Cang - Đại hội Nhà văn lần này cần theo đúng tinh thần nhìn thẳng vào sự thật  (Văn Nghệ 20-2-1988)

56. Thành Duy - Tinh thần dân chủ công khai phải được thể hiện rõ tại Đại hội nhà văn sắp tới (Văn Nghệ 27-2-1988)

57. Nguyễn Đăng Mạnh - Để có một hội nghề nghiệp thật sự (Văn Nghệ 5-3-1988) 58. Trần Độ - Đổi mới tư duy trong công tác phát hành sách (Văn Nghệ 12-3-1988) 59. Hoàng Phủ Ngọc Tường - Đổi mới phải là tinh thần, là mục tiêu của Đại hội nhà

văn sắp tới (Văn Nghệ 12-3-1988)  60. Hoàng Yến - Cuộc hành trình đi vào sáng tạo (Văn Nghệ 12-3-1988)  61. Nguyên Ngọc - Điều lệ Hội Nhà văn Việt Nam cần được sửa theo tinh thàn đổi mới 

(Văn Nghệ 26-3-1988)62. Trần Độ - Về mối quan hệ giữa quản lý và tự do sáng tác trong văn học nghệ thuật

(Văn Nghệ 9-4-1988)63. Ma Văn Kháng - Gọn nhẹ mà hiệu lực cao là yêu cầu cơ bản đối với tổ chức lãnh

đạo một hội nghề nghiệp (Văn Nghệ 9-4-1988)64. Lê Lựu - Những câu hỏi về triển vọng của văn học phải là mối băn khoăn chính

của các nhà văn đi dự Đại hội (Văn Nghệ 16-4-1988)65. Nguyễn Khoa Điềm - Muốn tập hợp nhau lại, phải cùng nhau làm rõ những tư

tưởng đổi mới văn nghệ (Văn Nghệ 16-4-1988)66. Trần Bạch Đằng - Phiếm luận về văn học nghệ thuật (Văn Nghệ 23-4-1988)67. Trần Đức Thảo - Về quan điểm triết học của sự đổi mới, của sự cải tổ có tính cách

mạng (Sài Gòn Giải Phóng, 24-4-198868. Thiếu Mai - Cần phát huy vai trò của phê bình văn học (Văn Nghệ 7-5-1988) 69. Hoàng Minh - Suy nghĩ và ước mong của một người đọc (Văn Nghệ 14-5-1988) 70. Phùng Văn Tửu - Những nét mới trong lý luận phê bình (Văn Nghệ 21-5-1988)  71. Phạm Mạnh Hùng - Thuý Toàn - Dịch văn học - những vấn đề (Văn Nghệ 21-5-

1988)   72. Nông Quốc Chấn - Dân chủ trong văn nghệ (Văn Nghệ 21-5-1988)    73. Phạm Xuân Nguyên - Cái hèn của người cầm bút (Sông Hương 5-1988)74. Minh Huệ - Cách làm đại hội cũng phải mới (Văn Nghệ 21-5-1988)    75. Dương Thu Hương - Lớp người viết tứ tuần phải có vai trò rõ rệt hơn (Văn Nghệ 4-

6-1988) 76. Trần Đĩnh - Đổi mới cái tâm (Văn Nghệ 4-6-1988) 77. Mai Văn Tạo - Tự do sáng tác -- Điều kiện sống còn của người cầm bút (Văn Nghệ

11-6-1988) 78. T.N.P. - Mấy nhận xét về tình hình văn hoá văn nghệ thời gian qua (Văn Nghệ 26-6-

1988)79. Lê Công Thành - Hy vọng ở các đại hội (Văn Nghệ 9-7-1988)80. P.V. – Các nhà văn Nam Trung Bộ thảo luận về văn xuôi (Văn Nghệ 9-7-1988) 81. Diệp Minh Tuyền - Cần đổi mới cơ chế Hội Nhà văn (Văn Nghệ 16-7-1988)82. Phong Lê - Lại bình về giá trị của "chất xám" (Văn Nghệ 16-7-1988) 83. Nguyễn Trọng Tín - Thử nhìn lại mình (Văn Nghệ 30-7-1988)84. Ngô Thảo - Nên chăng? (Văn Nghệ 20-8-1988)85. Nghiêm Minh - Qua hội thảo về chất lượng sách văn học (Sài Gòn giải phóng 11-9-

1988)86. Lê Văn Thảo - Về những trang viết hôm nay (Văn Nghệ 5-11-198887. Trần Độ - Văn nghệ cần tiếp tục đổi mới (Văn Nghệ 12-11-1988)88. Trần Bạch Đằng - Tiếp tục con đường đổi mới trong sáng tạo văn học nghệ thuật

(Sài Gòn giải phóng 23-11-1988)

Page 101: Tieu Thuyet Nong Thon

89. P.V. - Trò chuyện văn chương với Nguyễn Minh Châu (Văn Nghệ 3-12-1988)90. Bùi Hiển - Gắn liền tâm huyết với công cuộc đổi mới xã hội (Văn Nghệ 3-12-1988) 91. Mai Quốc Liên - Về một vài vấn đề văn học đang được thảo luận (Văn Nghệ 31-12-

1988)92. Nguyễn Đăng Mạnh – Đoàn kết thật sự, dân chủ thật sự, đổi mới thật sự (Sông

Hương 18-1-1989) 93. P.V. - Trước ngưỡng cửa của sự đổi thay (Sông Hương)94. Lại Nguyên Ân - Mấy nhận thức về đổi mới trong văn nghệ (Văn nghệ 28-10-1989) 95. Đinh Xuân Dũng - Vài suy nghĩ về những cuộc tranh luận văn nghệ gần đây (Văn

nghệ 22-7-1989)

 

PHẦN HAI

Tiểu dẫn: Ở phần này những người làm Sưu tập này tập hợp tư liệu trên một số đề tài được bàn thảo, tranh luận trong những năm đầu đổi mới. Đó là xung quanh vấn đề văn nghệ và chính trị, vấn đề quan hệ giữa văn nghệ với hiện thực và luận đề "văn nghệ phản ánh hiện thực", chung quanh các quan niệm về phê bình văn nghệ và đánh giá trạng thái phê bình trong thực tế đời sống văn nghệ; ngoài ra là một số vấn đề khác như xung quanh phạm trù tính nhân loại của văn nghệ, phạm trù nghệ sĩ trong lý luận văn nghệ, ý nghĩa của tinh thần phê phán trong nghệ thuật và khoa học nhân văn,... Có một đề tài mà hóa ra giới văn nghệ lại là "đầu têu" sớm hơn ai, ấy là bàn thảo về sách văn học cho trẻ em và nội dung sách giáo khoa văn học, điều mà càng về sau càng trở thành vấn đề lớn, giành được sự quan tâm của toàn xã hội. Tất nhiên các vấn đề không nảy sinh cùng một lúc; có vấn đề nổi lên ngay những ngày đầu của phong trào đổi mới, lại có những vấn đề nảy sinh về sau, trong tiến trình công cuộc đổi mới đi vào đời sống, chẳng hạn những vấn đề hiện đại hóa tư duy lý luận, vấn đề hội nhập về văn hóa khi đời sống hàng ngày diễn ra sự hội nhập về kinh tế,... chỉ nảy sinh từ giữa những năm 1990. Xen giữa các chủ đề trên, Sưu tập dành một đoạn trong phần này cho văn tiểu luận đặc sắc của một vài nhà văn đã xuất hiện và khẳng định được chỗ đứng trong văn học tiếng Việt chính ở văn nghệ thời đầu đổi mới này

 

1. Lê Ngọc Trà - Văn nghệ và chính trị (Văn nghệ 19-12-1987) 2. Nhiều tác giả - Thảo luận bàn tròn tại tuần báo Văn nghệ (Văn nghệ, 27-2-1988, 5-3-

1988) 3. Nguyễn Khải - Mấy lời nói lại và nói thêm (Văn nghệ, 2-3-1988)

Page 102: Tieu Thuyet Nong Thon

4. Lại Nguyên Ân - Về một phương diện của quan hệ giữa văn nghệ và chính trị (Sông Hương, 3-1988)

5. Nguyễn Văn Hạnh - Văn nghệ và chính trị (Văn nghệ, 7-5-1988) 6. Nguyễn Thanh Hà - Mấy điều cần nói lại (Tạp Chí Cộng Sản, 7/1988) 7. Lê Xuân Vũ - Quan hệ giữa văn nghệ và chính trị không phải là quan hệ giữa hai

"bá quyền" trong xã hội (Tạp Chí Cộng Sản, 7-1988) 8. Lữ Phương - Chính trị và văn nghệ: đổi mới hay không đổi mới (Sông Hương, tháng

3 và 4/1989) 9. Lại Nguyên Ân - Vài điều cần trao đổi lại (Sông Hương, số 36 (tháng 3 & 4, 1989) 10. Lại Nguyên Ân - Mấy ý kiến về phê bình văn học (Quân Đội Nhân Dân 11-7-1987) 11. Nguyễn Đăng Mạnh - Phê bình văn học trong tình hình mới (Văn Nghệ, 29-8-1987) 12. Phan Cự Đệ - Mấy ý kiến về đổi mới tư duy trong lý luận, phê bình văn học (Văn

Nghệ Quân Đội, 12-1987) 13. Tôn Gia Các - Xin hỏi: Có thật lòng muốn đổi mới không? (Văn Nghệ, 19-3-1988) 14. Lại Nguyên Ân - Đã nghĩ lối mới hay vẫn nghĩ lối cũ? (Văn Nghệ Quân Đội, số 5-

1988) 15. Anh Đào - Đổi mới tư duy trên tinh thần khoa học và cách mạng (Văn Nghệ Quân

Đội, số 6-1988) 16.Phạm Xuân Nguyên - Bàn chuyện đổi mới trong văn học (Văn Nghệ Quân Đội, số 7-

1988) 17.Lã Nguyên - Vì một quá trình văn học tương lai (Văn Nghệ 23-1-1988) 18.Phong Lê - Phê bình tự phê bình (Văn Nghệ, 1-10-1988) 19.Lê Đình Kỵ - Nghĩ về công việc phê bình văn học hôm nay (Văn Nghệ, 14-1-1989) 20.Hà Minh Đức - Suy nghĩ về công tác phê bình văn học (Văn Nghệ 11-3-1989) 21.Phong Lê - Lý luận phê bình trong sự nghiệp đổi mới (Văn Nghệ 22-4-1989) 22.Vương Trí Nhàn - Phê bình trong cơ chế tự thoả mãn của đời sống văn học (Văn

Học và Dư Luận, số 10-1991) 23.Lê Ngọc Trà - Phê bình văn học cũng là văn học (Lý luận và văn học, Tp.HCM, 1990,

Nxb Trẻ, tr.71-81) 24.Lê Tiến Dũng - Nhà phê bình và cái roi ngựa (Cửa Việt, Quảng Trị, số 12-1992) 25.Lại Nguyên Ân - Đổi mới điều kiện sống, là điều kiện sống của đổi mới (Sống với

văn học cùng thời, 1997) 26.Lê Ngọc Trà - Vấn đề văn học phản ánh hiện thực (Văn Nghệ 14-5-1988) 27.Lê Ngọc Trà - Tư tưởng lý luận của nhà văn và sáng tác văn học (Văn nghệ, 22-8-

1987) 28.Trần Đình Sử - Phương diện chủ quan của phản ánh và đặc trưng của văn nghệ (Lý

luận và phê bình văn học, 1996) 29.Trần Đình Sử - Tính nhân loại của văn học (Văn nghệ, Hà Nội, số 1 & 2 (9-1-1988) 30.Lê Ngọc Trà - Vấn đề con người trong văn học (Lý luận và văn học, Nxb Trẻ Tp.HCM,

1990, tr.51-65) 31.Lê Ngọc Trà - Nghệ sĩ (Lý luận và văn học, Nxb Trẻ Tp.HCM, 1990, tr.66-70) 32.Lại Nguyên Ân - Nghệ sĩ và xã hội (Sân khấu, số 2-1988) 33.Vương Trí Nhàn - Mặc cảm - tha hóa - phân thân trong tâm lý người cầm bút (Cửa

Việt,1991) 34.Lê Chí Dũng - Về quan hệ giữa điển hình văn học và điển hình cuộc sống xã hội

(Văn nghệ, 10-12-1988) 35.Lê Chí Dũng - Về khả năng phản ánh phủ định của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ

nghĩa (Văn nghệ, 30-4-1988)

Page 103: Tieu Thuyet Nong Thon

36.Phạm Minh Lăng - Vai trò của phê phán trong phương pháp luận khoa học nhân văn (Văn nghệ, 3-3-1990)

37.Hoàng Ngọc Hiến - Thời kỳ văn học vừa qua và xu thế phát triển (Văn nghệ, 4-1990) 38.Nguyễn Văn Lưu - Có âm dương trong văn học hay không? (Văn nghệ, 5-1990) 39.Đỗ Lai Thuý - Một cách nhận diện thời kỳ văn học vừa qua (Văn nghệ, 6-1990) 40.Hoàng Ngọc Hiến - Những nhận xét xác đáng và những hiểu lầm đáng tiếc (Văn

nghệ, 24-11-1990) 41.Trần Đình Sử - Đổi mới lý luận tức là hiện đại hoá lý luận (Văn nghệ, 8-1-1994) 42.Đỗ Văn Khang - Góp vào hiện đại hoá nền lý luận văn học Việt Nam (Văn nghệ 5-3-

1994) 43.Lã Nguyên - Nghĩ về vấn đề hiện đại hoá lý luận văn học ((Văn nghệ 12-3-1994) 44.Vương Trí Nhàn - Hội nhập với thế giới để tránh nguy cơ văn học tụt hậu trước đời

sống (Văn nghệ, 29-7-1995) 45. Trần Mạnh Hảo - Đừng công nghệ hoá văn chương (Văn nghệ, 29-7-1995) 46.Lý Tùng Hiếu - Vấn đề của hội nhập: tri thức là sức mạnh (Phụ nữ, 28-6-1995) 47.Lương Sinh - Than ôi, cái đầu óc sùng ngoại (Công an TP HCM, 9-8-1995) 48.Vương Trí Nhàn - Hội nhập như một lẽ đương nhiên (Phụ nữ TPHCM 26-8-1995) 49.Trần Bình - Chiếc áo dài của phụ nữ Việt Nam (trao đổi với nhà lý luận Vương Trí

Nhàn) (Công An TP  HCM 6-9-95) 50.Lại Nguyên Ân - Vấn đề hội nhập: từ kinh tế đến văn hoá (Phụ nữ TP HCM 9-9-1995) 51.Hoàng Tuệ - Hội nhập để phát triển (Thanh Niên, 14-1-1996) 52.Đoàn Minh Tuấn - Hội nhập: Cần có những người đưa tin uyên bác (Phụ nữ TP

HCM 23-9-1995) 53.Đinh Quang Tốn - Đừng sợ văn học Việt Nam tụt hậu (trao đổi với Vương Trí Nhàn)

(Tác phẩm mới, số 10-1995) 54.Ngô Vĩnh Bình - Trở lại vấn đề "hội nhập văn hoá": Coi chừng xu hướng muốn hoà

tan (Công an thành phố, Tp.HCM. 6-12-1995) 55.Nguyễn Huy Thiệp - Khoảng trống ai lấp được trong tư tưởng nhà văn (Sông

Hương, 42/1990) 56.Nguyễn Huy Thiệp - Nhà văn và bốn trùm mafia (Sông Hương, số 46-1991) 57.Phạm Thị Hoài - Viết như một phép ứng xử (Sông Hương, số 39-1989) 58. Phạm Thị Hoài - Một trò chơi vô tăm tích (Văn nghệ, 17-2-1990) 59.Thảo luận về sách văn học cho thiếu nhi và việc dạy văn ở các trường phổ thông

(Văn nghệ, 28-5-1988) 60.Võ Quảng - Sách văn học cho thiếu nhi (Văn nghệ, 28-5-1988) 61.Trần Hoài Anh - Sự đổi mới của văn nghệ hôm nay và vấn đề trích giảng những tác

phẩm văn học trong nhà trường (Văn nghệ, 14-5-1988) 62. Phan Kế Hoành - Cần mau chóng cải cách môn văn ở cấp phổ thông trung học

(Văn nghệ, 28-5-1988) 63. Văn Hồng - Trăn trở đôi điều (Văn nghệ, 28-5-1988) 64. Hoàng Phủ Ngọc Tường - Hiểu văn và dạy văn (Văn nghệ, 26-6-1988) 65.Nguyễn Đăng Mạnh - Vài suy nghĩ về "đổi mới tư duy" trong giảng dạy văn học 66.Phạm Toàn - Dạy văn cho học sinh phổ thông 67.Phan Trọng Luận - Về mối quan hệ giữa viết văn và dạy văn 68. Văn Tâm - Một cuộc bỏ phiếu văn chương của công chúng ngành giáo dục

PHẦN BATiểu dẫn

Page 104: Tieu Thuyet Nong Thon

- Lã Nguyên - Văn học Việt Nam trong bước ngoặt chuyển mình- Lại Nguyên Ân - Thử nhìn lại văn xuôi mười năm qua - Lê Tiến Dũng - Bước phát triển của văn xuôi Việt Nam sau 1975- Mai Huy Bích - Đề tài gia đình trong văn xuôi những năm gần đây - Huỳnh Như Phương - Văn xuôi những năm 80 và vấn đề dân chủ hoá nền văn học- Vương Trí Nhàn - Bước đi không thể đảo ngược- Ngọc Oanh - Khởi sắc hay là sự chuyển mình của văn học- Huỳnh Như Phương - Cảm hứng phê phán trong văn chương hiện nay- Nguyên Ngọc - Văn xuôi sau 1975, thử thăm dò đôi nét về quy luật phát triển- Từ Sơn - Nghĩ về công chúng văn học của chúng ta hiện nay- Võ Hồng Ngọc - Thể ký và những tín hiệu của một chân trời văn học mới- Vương Trí Nhàn - Sự cần thiết của văn học- Mai Ngữ - Cuộc hành trình đầy vất vả- - Về một chặng đường văn xuôi- - Hội thảo về tình hình văn xuôi- Đặng Anh Đào - Từ nguyên tắc đa âm tới một số hiện tượng văn học Việt Nam- - Truyện ngắn hôm nay- Đinh Xuân Dũng - Đổi mới văn xuôi chiến tranh*- - Hội thảo thơ ở Tp.HCM- Võ Văn Trực - Khẩn trương nhưng đừng nóng vội- Nguyễn Bùi Vợi, Phạm Ngọc Cảnh, Phan Cung Việt, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Hoàng Sơn, Phạm Đức, Bế Kiến Quốc - Thơ - từ người viết đến người đọc- (Phạm Tiến Duật thuật) - Thơ và sự phát triển- (P.V. thuật) - Thơ trong tiến trình đổi mới của văn học - Ngô Minh - Thơ hôm nay : gieo và gặt- Vũ Quần Phương - Đôi nét diện mạo thơ bây giờ- (Thảo Phương thuật) - Dưới những góc nhìn khác nhau*- - Lý luận phê bình văn học, - những vấn đề gì đang đặt ra?- - Lý luận phê bình trong sự nghiệp đổi mới văn học- (Võ Đăng Thiên thuật) – Văn học: đổi mới và phát triển- - Vì sự phát triển vững chắc của văn học- Hữu Mai, Nguyễn Kiên, Lê Minh Khuê,

Page 105: Tieu Thuyet Nong Thon

Hà Xuân Trường, Phong Lê, Nguyễn QuangThân, Đỗ Văn Khang, Nguyễn Văn Lưu,Lại Nguyên Ân, Xuân Cang - Văn học và hiện thực hôm nay*- Nguyễn Thuỵ Kha - Đêm nhạc Văn Cao- Phan Hồng Giang - Những người đem tới niềm vui- Văn Ký - Về những lời bình ca nhạc- Anh Ngọc - Trở lại cái bình thường- Dương Viết Á - Về cái đời thường trong âm nhạc- Dương Viết Á - Âm nhạc: giáo dục hay áp đặt?*- Hồ Sĩ Quý - Đổi mới ở Văn nghệ- Phạm Quang Long - Một vài ghi nhận- Nguyễn Kim Anh - Đổi mới qua những trang văn xuôi- (nhiều độc giả) - Độc giả nói về tờ báo của mình- Xuân Cang - Tiếng nói lương tri của các nhà văn- P.V. - Trong tình cảm tin yêu chân thành- Nguyễn Quang Sáng - Báo Văn nghệ là một biểu hiện đổi mới của văn học - - Đổi mới báo chí văn hoá văn nghệ- - Chung quanh cuộc hội thảo sáng tác trẻ tại Hà Nội- - Dân chủ và sôi nổi- Hội Nhà văn VN - Hội nghị VII Ban Chấp hành khoá III- Nguyễn Đình Thi - Văn học và đổi mới- Nguyên Ngọc - Một điều cần nói lại- Giang Nam - Trả lời phỏng vấn- Vũ Hạnh - Về bản tin chi tiết...- Nguyễn Khắc Viện - Xin cho biết rõ hơn- Ý Nhi - Vấn đề báo Văn nghệ: vấn đề của Đại hội nhà văn IV - Nguyễn Duy - Một quyết định bất chấp công luận- (12 nhà văn) - Thư ngỏ- Thanh Thảo - Thư ngỏ- Bùi Minh Quốc - Thư ngỏ- Lê Đình Kỵ - Dòng nước ngược- Hoàng Phủ Ngọc Tường - Sự phán xét hãy dành cho công chúng và thời gian- Đào Xuân Quý - Một quyết định mờ ám- Thế Vũ - Điều đáng sợ nhất của văn học- Y Điêng,... - Ý kiến ngắn- Nguyễn Đình Thi - Trả lời phỏng vấn của báo Tuần tin tức - Nguyên Ngọc - Đôi điều cần nói lại- Nguyễn Đình Thi - Trả lời

Page 106: Tieu Thuyet Nong Thon

PHẦN BỐNTiểu dẫn- Thiếu Mai - Nghĩ về một "thời xa vắng" chưa xa- Hoàng Ngọc Hiến - Đọc Thời xa vắng của Lê Lựu - Mai Huy Bích - Hôn nhân, gia đình, xã hội qua một cuốn tiểu thuyết- Nguyễn Hoà - Suy tư từ một Thời xa vắng - Vương Trí Nhàn - Một đóng góp vào việc nhận diệncon người Việt Nam hôm nay- Nguyễn Văn Lưu - Nhu cầu nhận thức lại thực tại qua một Thời xa vắng - Phong Lê - Đọc lại Thời xa vắng của Lê Lựu- Lê Thành Nghị - Thời xa vắng, một tâm sự nóng bỏng*- Đào Hùng - Dương Thu Hương và những bến bờ ảo vọng - Nguyễn Khang - Suy nghĩ về tiểu thuyết Bên kia bờ ảo vọng - Nguyễn Văn Lưu - Đấy cũng chỉ là một ảo vọng- Hoàng Tiến - Về tiểu thuyết Bên kia bờ ảo vọng - Nguyễn Tường Lan - Về những nhân vật nữ của Bên kia bờ ảo vọng - Đỗ Đức Hiểu - Đọc Dương Thu Hương- Phạm Quang Long - Về một tiểu thuyết đang có nhiều ý kiến bàn cãi- Đặng Anh Đào - Hoài niệm, mặc cảm và định kiến trong Những thiên đường mù- Đỗ Thị Minh Thuý - Từ Những thiên đường mù, nghĩ về sự phản ánh bi kịch xã hội *- TCVH - Gặp gỡ và trao đổi với Nguyễn Huy Thiệp- Vương Trí Nhàn - Tưởng tượng về Nguyễn Huy Thiệp- Đặng Anh Đào - Biển không có thuỷ thần- Tạ Ngọc Liễn - Về truyện ngắn Vàng lửa của Nguyễn Huy Thiệp- Lại Nguyên Ân - Đọc văn phải khác đọc sử- Nguyễn Hữu Sơn,Trịnh Bá Đĩnh - Về một lối cảm thụ phê bình "bắt vít"- Diệp Minh Tuyền - Nguyễn Huy Thiệp, một tài năng mới- Lê Đình Kỵ - Tướng về hưu, một thành tựu không thể phủ nhận - Văn Tâm - Đọc Nguyễn Huy Thiệp- Lê Xuân Giang - Nhà văn đối thoại, phong cách phúng dụ - Hoàng Ngọc Hiến - Tư duy tiểu thuyết và phôn-cơ-lo hiện đại

Page 107: Tieu Thuyet Nong Thon

- Trương Hồng Quang,Nguyễn Mai Xuân - Vàng lửa, "triết học lịch sử" hay "văn xuôi nghệ thuật"? - Vương Anh Tuấn - Lịch sử trong quan niệm của Nguyễn Huy Thiệp- Greg Lockhart - Tại sao tôi dịch truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp ra tiếng Anh?- Nguyễn Văn Lưu - Về những cách đọc văn Nguyễn Huy Thiệp- Đỗ Văn Khang - Sự "mơ mộng" và "nghiêm khắc" trong truyện ngắn Phẩm tiết- Trần Thanh Đạm - Về tính nữ, chữ tâm và lòng nhân ái*- Đỗ Đức Hiểu - Đọc Phạm Thị Hoài- Phạm Phú Phong - Đọc truyện ngắn Phạm Thị Hoài- Nguyễn Vạn Phú - Đọc Mê lộ của Phạm Thị Hoài: tập études kỹ thuật- Lại Nguyên Ân - Những đặc điểm của tiểu thuyết Thiên sứ - Đặng Thị Hạnh - Đứa trẻ và thành phố trong Thiên sứ*- - Thảo luận về tiểu thuyết Những ngày thường đã cháy lên của Xuân Cang*- Trần Bảo Hưng - Đám cười không có giấy giá thú hay là những nghịch lý đau xót của thực tại- - Thảo luận về tiểu thuyết Đám cưới không có giấy giá thú của Ma Văn Kháng- Nguyễn Việt, Bùi Kim Chi - Tiểu thuyết Đám cưới không có giấy giá thú, khen và chê- Lê Thành Nghị - Về người trí thức trong Đám cưới không có giấy giá thú- Trần Quân - Sao ông Phong Thu lại nhận xét như vậy?*- Nguyễn Khoa Văn - Đọc tiểu thuyết Những mảnh đời đen trắng- Nguyễn Trúc Linh - Những mảnh đời đen trắng, - một cuốn sách nhiều lệch lạc- (Đỗ Trung Lai ghi) - Toạ đàm về tiểu thuyết Những mảnh đời đen trắng- Nguyễn Văn Lưu - Đọc tiểu thuyết Những mảnh đời đen trắng- Hoàng Dũng - Một cách phê bình đáng lo ngại...*

Page 108: Tieu Thuyet Nong Thon

- Phạm Xuân Nguyên - Vì sao "ly thân"? - Nghiêm Thanh,Nguyễn Trúc Linh - Một cái nhìn thiên lệch trong tiểu thuyết Ly thân- Lê Thành Nghị - Nhân đọc Ly thân- - Thảo luận về tiểu thuyết Ly thân*- - Toạ đàm về tiểu thuyết Góc tăm tối cuối cùng của Khuất Quang Thuỵ- - Trao đổi về tiểu thuyết của Khôi Vũ Lời nguyền hai trăm năm- Trần Bảo Hưng - Đôi điều về Lời nguyền hai trăm năm- - Trao đổi về tiểu thuyết Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai*- Mai Lĩnh - Miền hoang tưởng, - cuốn sách không chỉ bôi đen...- Hoàng Hồng Hưng - Vài suy nghĩ chung quanh tiểu thuyết Miền hoang tưởng- Phan Tứ - Thấy gì qua cuốn Miền hoang tưởng- - Thảo luận về tiểu thuyết Miền hoang tưởng*- Dương Tường - Đọc tập Ngựa biển- Hồng Tâm - Xin miễn bình- Lê Quang Trang - Sống lại chăng một thứ thơ tắc tị?- Đinh Kiều Nguyên - Nhân đọc tập Ngựa biển, nghĩ về sự khen chê- Đỗ Mai Hà - Đọc Thơ tình Bùi Chí Vinh- Huy Thể - Tình cảm loạn tình trong thơ*- Nguyễn Khắc Phê - Đôi điều quanh ba cuốn tiểu thuyết vừa được giải- Nguyễn Phan Hách - Hai bức tranh hiện thực nông thôn- Trung Trung Đỉnh - Dương Hướng và Bến không chồng- Lê Thành Nghị - Đọc Mảnh đất lắm người nhiều ma- - Thảo luận về tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma - Hồng Diệu - Về Mảnh đất lắm người nhiều ma - Nguyên Ngọc, TừQuốc Hoài, NgọcAnh, Thanh Phước - Về Mảnh đất lắm người nhiều ma *- Nguyên Ngọc - Cuốn tiểu thuyết về một cuốn tiểu thuyết- Đào Hiếu - Thân phận của tình yêu - Hoàng Hưng - Xin gọi đúng tên

Page 109: Tieu Thuyet Nong Thon

- Hoàng Ngọc Hiến - Những nghịch lý của chiến tranh- - Thảo luận về tiểu thuyết Thân phận của tình yêu- Đỗ Văn Khang - Nghĩ gì khi đọc tiểu thuyết Thân phận của tình yêu?- Phạm Xuân Nguyên - Nghĩ gì khi đọc "Nghĩ gì khi đọc Thân phận của tình yêu"?- Đỗ Đức Hiểu - Những nhịp mạnh của tiểu thuyết Thân phận của tình yêu- Trần Duy Châu - Từ đâu đến "Nỗi buồn chiến tranh"?- Phạm Chí Dũng - Suy nghĩ về cái tang tóc của Nỗi buồn chiến tranh- Nguyễn Quang Sáng - Trả lời phỏng vấn của báo Công an thành phố HCM vềquyển Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh- Nguyễn Khải - Trả lời phỏng vấn của báo Công an thành phố HCM vềquyển Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh- Vũ Tú Nam - Trả lời phỏng vấn của báo Công an thành phố HCM về cuốn Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh- Nguyễn Thị Ngọc Tú,Vũ Quần Phương - Trả lời phỏng vấn của báo Công an thành phố HCM vềcuốn Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh- Nguyễn Đình Ước, Huỳnh Khái Vinh - Trả lời phỏng vấn của báo Công an thành phố HCM về cuốn Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh- Vũ Hạnh - Khi các vị giám khảo xét lại lá phiếu của mình- Thanh Lê - Thấm đòn qua Nỗi buồn chiến tranh- Linh Hoà - Luận bàn về Nỗi buồn chiến tranh-Nguyễn Đình Thi - Trả lời phỏng vấn của báo Công an thành phố HCM

*- Huỳnh Như Phương - Một đóng góp vào tiến trình tự ý thức của văn học- Hà Xuân Trường - Đặc trưng văn học- Nguyễn Hoà - Để văn học thật sự là văn học- Hoàng Nhân - Lý luận lạc hướng- Lã Nguyên - Lý luận văn học phải trở thành lý luận lịch sử- Lữ Phương - Về tính đặc trưng của văn nghệ- Nguyễn Thanh Hùng - Ở đó còn cả một chân trời- Bùi Việt Thắng - Về vấn đề văn học phản ánh hiện thực- Trần Đình Sử - Bàn thêm về vấn đề đổi mới lý luận văn học- Trần Thanh Đạm - Khái niệm phản ánh hiện thực trong luận đề văn

Page 110: Tieu Thuyet Nong Thon

học phản ánh hiện thực - Trần Duy Châu - Mới hay cũ?- Phương Lựu - Về cuốn Lý luận và văn học - Văn Nghệ - Để lý luận văn học ngày thêm xanh tươi- Lại Nguyên Ân - Thêm vài ý kiến vào một cuộc thảo luận- (Lê Bình, Tuyết Lộc thuật) – Bàn tròn với Lê Ngọc Trà- Lữ Phương - Trả lời tạp chí Cửa Việt- Trần Đình Sử - Phản ánh và sáng tạo thực chất là những vấn đề học thuật nghiêm chỉnh

PHẦN NĂMTiểu dẫn

- Phương Lựu - Đối trọng hay hợp lực?- Đỗ Văn Khang - Trong văn học cũng không thể để nền dân chủ bị lợi dụng- Đỗ Quang Lưu - Bà già "hồi xuân" và chuyện... "đổi mới"- Tạ Hữu Yên - Với cây bút trên tay- Mai Quốc Liên - Vài dòng thời sự văn nghệ- Bùi Công Hùng - Những điểm nóng hổi của văn học hôm nay - Phạm Hồ - Ai bảo thủ ai cấp tiến?- Mai Ngữ - Hãy gọi sự thật bằng cái tên của nó- Phạm Tường Hạnh - Về bản lĩnh của nhà văn trước thời cuộc hiện nay- Lê Ngọc Văn - Những sự thật trong đời sống văn học hiện nay- Nguyễn Thanh Hùng - Chơi cũng phải đúng luật- Bùi Công Hùng - Sự công bằng trong bình giá văn học- Phạm Tiến Duật - Văn nghệ và bạn đọc - Bùi Hiển - Công việc viết văn và sự trung thực- Nguyễn Văn Lưu - Những ngộ nhận văn chương- Tố Hữu - Trường Giang - Trò chuyện về văn học hiện nay- Hồng Diệu - Mấy vấn đề của lý luận phê bình văn học- Đỗ Văn Khang - Những tham vọng ngoài văn học- Lê Xuân Vũ - Đứng vững trên miếng đất của nền văn học cách mạng- Chu Giang - Tác phẩm văn học và cách đọc?- Bùi Công Hùng - Đọc một số tiểu thuyết gần đây- Trần Hữu Duy - Về một số bài trên tạp chí Sông Hương số 3- Bùi Công Hùng - Phê bình và văn học hôm nay- Tạ Hữu Yên - Sông đầy, cây bụ, nụ tươi- Phạm Tiến Duật - Về tình hình văn học

Page 111: Tieu Thuyet Nong Thon

- Nguyễn Văn Lưu - Nghệ thuật "nằm vạ"- Bùi Công Hùng - Những vấn đề của thơ hiện nay- Mai Quốc Liên - Bàn thêm về thơ, nhà thơ và công chúng- (P.V.) - Qua cuộc hội thảo về lý luận phê bình của Hội Nhà văn- Nguyễn Văn Lưu - Đổi mới văn học, quan niệm và thực tiễn- Vũ Tú Nam - Đôi điều về sách văn học hôm nay- Trần Thanh Đạm - Về chiếc khung tranh, chiếc đèn lồng, cái bình thường vàcái phi thường trong văn chương - Nguyễn Thư Hùng - Thích bị phê- Đỗ Mai Hà - Qua ba cuộc hội thảo văn học- Đỗ Văn Khang - "Bước qua lời nguyền" và văn học "sám hối"- Hồ Sĩ Vịnh - Vấn đề con người trên sân khấu hôm nay- Hồ Sĩ Vịnh - Lý luận phê bình trước những thử thách mới của đờisống văn nghệ- Đỗ Văn Khang - Vì sao văn của Nguyễn Huy Thiệp ngày càng sa sút?- Bùi Công Hùng - Sáng tạo nghệ thuật chân chính- Hoa Lục Bình - Tự do và tuỳ tiện trong sáng tác- Lê Quang Trang - 45 năm văn học, những thành tựu không thể phủ nhận- P.V. - Họp cộng tác viên về đấu tranh tư tưởng và phê bình văn học trong tình hình hiện nay- Dũng Hà - Nghĩ về bản lĩnh người cầm bút hôm nayPHỤ LỤC- Anatoli A. Sokolov - Văn hoá và văn học Việt Nam trong những năm đổi mới

Đã lên mạng

 

Nhà văn Việt Nam:Đổi mới và Hội nhập

Tô Nhuận Vỹ(talawas 12/2007)

VĂN NGHỆ VÀ CHÍNH TRỊLê Ngọc Trà

Văn Nghệ 19-12-1987

Page 112: Tieu Thuyet Nong Thon

THẢO LUẬN "BÀN TRÒN" TẠI TUẦN BÁO VĂN NGHỆ

Văn Nghệ, Số 9 (27-2-1988), số 10 (5-3-1988)

VỀ MỘT PHƯƠNG DIỆN CỦA QUAN HỆ GIỮA VĂN NGHỆ VÀ CHÍNH TRỊ

Lại Nguyên ÂnSông Hương, số 31 (tháng 5 và 6/1988)

Văn nghệ và chính trịNguyễn Văn Hạnh

Văn nghệ, số 19 (7-5-1988)

Mấy điều cần nói lạiNguyễn Thanh Hà

Tạp Chí Cộng Sản, số 7, 7/1988

Quan hệ giữa văn nghệ và chính trịkhông phải là liên hệ giữa hai "bá quyền"

trong xã hộiLê Xuân Vũ

Tạp Chí Cộng Sản, số 7, 7-1988

Chính trị và văn nghệĐổi mới hay không đổi mới

Lữ PhươngSông Hương, số 36 (tháng 3 và 4/1989)

Vần điều cần trao đổi lạiLại Nguyên Ân

Sông Hương, số 36 (tháng 3 & 4, 1989)

 

 

 

Sự vận động của các thể văn xuôi trong văn học thời kỳ đổi mới09:04 | 07/09/2009

LÝ HOÀI THUSự vận động và phát triển của một giai đoạn văn học luôn diễn ra song hành cùng sự vận động và phát triển của các loại thể văn học. Nói một cách khác: sức sống của một giai đoạn văn học được biểu hiện rõ rệt nhất qua diện mạo thể loại. Chính vì vậy, thể loại vừa là sự "phản ánh những khuynh hướng lâu dài và hết sức bền vững của văn học" (1) vừa là sự hồi sinh và đổi mới liên tục qua mỗi chặng đường phát triển.

Page 113: Tieu Thuyet Nong Thon

Nhà phê bình Lý Hoài Thu - Ảnh: 100years.vnu.edu.vnVăn học Việt Nam thời kỳ đổi mới (từ 1986 trở lại nay) không nằm ngoài quy luật đó của nghệ thuật. Nguồn gốc sâu xa của một tiến trình đổi mới nằm trong cảm hứng sáng tạo, trong quan niệm nghệ thuật về con người và đời sống xã hội, trong tư duy nghệ thuật... Nhưng tất cả những yếu tố đó đều trực tiếp chi phối đến phương thức phản ánh, đến cách thức cấu trúc và vận dụng thể loại. Chưa thể có một sự cách tân với mặt bằng vô cùng rộng lớn và tinh thần hiện đại hoá triệt để như thời hoàng kim 1930 - 1945, song nhìn vào tiến trình vận động của văn học Việt Nam giai đoạn từ 1986 trở lại nay, người ta dễ nhận ra sự phong phú đa dạng của diện mạo thể loại, những biến động về thi pháp cùng sự hưng thịnh của từng thể loại riêng biệt.

Tiểu thuyết là một thể loại lớn của phương thức tự sự, một trong những thể loại chủ chốt của văn xuôi hiện đại Việt Nam. Kể từ những gương mặt đầu của tiểu thuyết "Tự lực văn đoàn", tiểu thuyết hiện thực phê phán, qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và thời kỳ hậu chiến, tiểu thuyết Việt Nam đã có cuộc hành trình ngót 3/4 thế kỷ. Trong khoảng thời gian đó, tiểu thuyết đã khẳng định được vị trí then chốt của mình bằng việc tái hiện những bức tranh hiện thực đời sống với một quy mô lớn, bao quát được những vấn đề cơ bản của đời sống xã hội và số phận con người.

Hiện thực đời sống vào những năm sau 1975, đặc biệt vào thời kỳ đổi mới với nhiều biến động phức tạp, thực sự là "vùng trời, vùng đất" thích hợp, nếu không muốn nói là lý tưởng cho sự sáng tạo tiểu thuyết. Chính Nguyễn Khải, một trong những cây bút sớm có tư tưởng đổi mới đã thừa nhận: "Thời nay rộng cửa, gợi được rất nhiều thứ để viết. Tôi thích cái hôm nay, cái hôm nay ngổn ngang, bề bộn, bóng tối và ánh sáng, màu đỏ với màu đen, đầy rẫy những biến động, những bất ngờ, mới thật là một mảnh đất phì nhiêu cho các cây bút thả sức khai vỡ"(2). Vẫn còn đó âm hưởng hào hùng của sức mạnh và số phận cộng đồng, tiểu thuyết sau 1975 đã có thêm một cuộc hành hương tìm về với cội nguồn đặc trưng thể loại: đi sâu tìm hiểu, khám phá những vấn đề thuộc về số phận cá nhân.

Nếu thừa nhận cảm hứng về con người với những bước thăng trầm của số phận là đặc trưng nổi bật của tư duy tiểu thuyết thì rõ ràng tiểu thuyết thời kỳ đổi mới đã khơi đúng, khơi sâu vào mạch chính của thể loại. Không gian tiểu thuyết trở nên chân thực và nhân đạo hơn với "Thời xa vắng" (Lê Lựu), "Chim én bay" (Nguyễn Trí Huân), "Lời nguyền hai trăm năm" (Khôi Vũ), "Bến không chồng" (Dương Hướng), "Mảnh đất lắm người nhiều ma" (Nguyễn Khắc Trường), "Thân phận tình yêu" (Bảo Ninh), "Đám cưới không có giấy giá thú" (Ma Văn Kháng), "Góc tăm tối cuối cùng" (Khuất Quang Thụy), "Tiễn biệt những ngày buồn" (Trung Trung Đỉnh), "Thuỷ hoả đạo tặc" (Hoàng Minh Tường), "Hành lang phía đông" (Bùi Bình Thi), "Nắng quái" (Trầm Hương)... Đất nước chuyển mình sang một giai đoạn mới, tâm lý và nhịp sống thời đại đổi thay. Con người trong tổng hoà của những mối quan hệ xã hội trở nên phức tạp hơn. Không phải ngẫu nhiên mà đề tài thế sự, đời tư nổi lên như một vấn đề trung tâm của mọi "nỗ lực sáng tạo" trong tiểu thuyết đương đại. Ngay cả những tác phẩm viết về đề tài chiến tranh, đề tài nông thôn với quy mô hiện thực rộng lớn, nhiều tầng, nhiều mảng, nhà văn vẫn xoáy sâu vào những vấn đề cốt yếu của đời sống thông qua tâm điểm nhân vật. Những vui buồn, sướng khổ, được mất... của con người đã đi vào văn chương một cách chân thực, nhân bản và giàu tính hướng thiện.

Chính vì vậy, bên cạnh giá trị hiện thực lớn lao mà "tấm gương lớn" tiểu thuyết phản chiếu lại, một trong những thành tựu nổi bật của tiểu thuyết thời kỳ đổi mới là đã khắc họa thành công những số

Page 114: Tieu Thuyet Nong Thon

phận cá nhân. Cũng vẫn là người lính, người mẹ, người vợ, nghệ sĩ, trí thức, nông dân... nhưng giờ đây họ được soi rọi từ nhiều góc độ khác nhau, được đặt vào trong nhiều vòng quay của cuộc đời, kể cả những vòng xoáy nghiệt ngã nhất. Bằng cách ấy, các nhà tiểu thuyết đã gửi gắm được nhiều thông điệp nghệ thuật mang ý nghĩa triết lý nhân sinh, mở ra nhiều khuynh hướng đối thoại đa chiều... Không thỏa hiệp, không khoan nhượng với cách nhìn nhận con người bằng cái nhìn đơn giản, một chiều, chỉ thấy mặt tốt đẹp, mặt lý tưởng, các nhà tiểu thuyết đương đại đã đặt nhân vật vào vòng xoay nghiệt ngã của cuộc đời với đầy đủ các sắc màu, các cực đối lập: nhân tính và phi nhân, đạo lý và thất đức, bản ngã và phi bản ngã... và cũng không né tránh những mặt khuất lấp của cuộc đời, kể cả "góc tăm tối cuối cùng".

Nhân vật trong tiểu thuyết thời kỳ này, vì vậy, không còn mờ nhạt, đơn điệu mà có sự kết hợp giữa hình dạng và nội tâm, giữa ý thức và vô thức, giữa dục vọng bản năng và ước mơ thánh thiện. Nó có sức mạnh cảm hoá lòng người bởi những nét đời chân thực ấy. Và cũng có thể nói rằng, thế giới nhân vật của tiểu thuyết thời kỳ đổi mới đa phần nhuốm màu sắc bi kịch. Ai cũng có những đoạn đời gập ghềnh chông gai, những nỗi niềm trắc ẩn, những thua thiệt, mất mát... Nhưng đó là nét bi kịch mang ý nghĩa thức tỉnh, luôn hướng tới sự hoàn thiện nhân cách. Những lối viết hằn học, nhẫn tâm chuyên chú vào việc cường điệu những cuộc đời quẩn quanh, bế tắc, những chuyện tình mùi mẫn một cách rẻ tiền hay tầm thường bản năng đều nhanh chóng bị đẩy lùi ra khỏi địa hạt văn chương. Đó là dấu hiệu cho thấy nền văn học nói chung và tiểu thuyết thời kỳ đổi mới nói riêng là một khuynh hướng phát triển lành mạnh, đối lập với tất cả những gì có thể làm ô nhiễm bầu không khí nhân văn trong sạch.

Về hình thức nghệ thuật, tiểu thuyết thời kỳ đổi mới có nhiều thể nghiệm và tìm tòi theo chiều hướng hiện đại hoá. Nếu như trước đây, các nhà tiểu thuyết hướng tới những bức tranh hiện thực hoành tráng thì giờ đây họ "trở về xem xét con người Việt Nam một cách sáng tỏ và để đào xới vào nó sâu hơn" (Nguyễn Minh Châu), "phải viết về một cái gì đó của con người, cho con người" (Xuân Cang). Vì thế, kích thước tác phẩm trở lại với khuôn khổ nhỏ. Không còn những bộ tiểu thuyết nhiều tập với số lượng lên đến hàng nghìn trang như thời chống Pháp, chống Mỹ. Tiểu thuyết thời kỳ này thường gói gọn trong phạm vi một tập với số lượng phổ biến khoảng trên dưới 300 trang. Tuy nhiên khuôn hình ấy không hề hạn chế những cách tân về thi pháp thể loại. Kết cấu tác phẩm trở nên linh hoạt và sáng tạo hơn.

Bên cạnh những tác phẩm tuân thủ lối kết cấu truyền thống (trình tự thời gian song song với đường đời nhân vật) như "Thời xa vắng" - Lê Lựu, "Mảnh đất lắm người nhiều ma" - Nguyễn Khắc Trường, "Bến không chồng" - Dương Hướng, "Hành lang phía đông" - Bùi Bình Thi, "Thuỷ hoả đạo tặc" - Hoàng Minh Tường... là những tác phẩm kết cấu theo quy luật tâm lý (dòng hồi tưởng và ký ức của tác phẩm) như "Thân phận tình yêu" (Bảo Ninh), "Ăn mày dĩ vãng" - Chu Lai, "Chim én bay" - Nguyễn Trí Huân, "Góc tăm tối cuối cùng" - Khuất Quang Thụy. "Một ngày và một đời" - Lê Văn Thảo. Có thể nói đây là những tác phẩm tạo được những ấn tượng mới về nghệ thuật tiểu thuyết. Trên một nền cốt truyện không có sự tổ chức sắp xếp theo một trình tự nhất định nên có phần lỏng lẻo, thậm chí có khi không thành cốt truyện, không cần cốt truyện, đời sống nội tâm nhân vật được tập trung khai thác với nhiều biến thái: suy nghĩ, cảm xúc, tiềm thức, vô thức, mộng mị, hồi ức...

Đặc biệt là những đoạn nhân vật độc thoại. Cấu trúc không gian, vì thế, cũng có sự đảo lộn: hiện tại xen kẽ vào quá khứ, thủ pháp đồng hiện, thủ pháp tạo ra những khoảng gãy khúc, những mảng vỡ không gian và sau đó liên kết lại theo phương pháp lắp ghép của nghệ thuật điện ảnh trở nên phổ biến. Giọng điệu kể chuyện của tiểu thuyết cũng có phần hấp dẫn, khách quan và đa thanh hơn. Thay vì lối kể chuyện truyền thống của một nhân vật trung gian, tiểu thuyết thời kỳ đổi mới thường có hai nhân vật kể chuyện. Điểm nhìn nghệ thuật không chỉ được gia tăng mà còn thường xuyên xê dịch, đổi ngôi. Nhờ đó nó phá vỡ được lối kể lể đơn điệu, nhuốm màu sắc chủ quan của tiểu thuyết truyền thống. Cũng nhờ đó mà nó bớt đi tính giáo huấn áp đặt một chiều, tạo điều kiện thuận lợi cho tinh thần đối thoại và tự đối thoại cởi mở, dân chủ của tư duy tiểu thuyết mới.

Bên cạnh tiểu thuyết, truyện vừa và truyện ngắn (Trung thiên tiểu thuyết và đoản thiên tiểu thuyết)

Page 115: Tieu Thuyet Nong Thon

trong những thập niên qua phát triển mạnh mẽ, có thể gọi là rực rỡ. Không phải ngẫu nhiên mà người ta gọi đây là thời kỳ "lên ngôi" của truyện ngắn. Điều này hoàn toàn có thể cắt nghĩa được bởi trong nhịp độ của đời sống công nghiệp hiện đại, dưới sức ép từ phía các phương tiện nghe nhìn truyện ngắn đã phát huy dược ưu thế của mình một cách hiệu quả. Thêm vào đó là sự xuất hiện đồng loạt các cây bút nữ ngỡ có lúc họ làm chủ văn đàn cũng tỏ rất "vừa tay" với thể loại này. Với một khuôn khổ có thể gọi là nhỏ bé, với sự tước bỏ những chi tiết rườm rà, với sự dồn nén của yếu tố không - thời gian, yếu tố tâm lý nhân vật... Truyện ngắn có khả năng khai thác sâu những bước ngoặt của số phận. Cùng nằm trong hệ tư duy của phương thức tự sự, song nếu ví tiểu thuyết như một cây đại thụ với đầy đủ gốc, thân, cành, lá xum xuê thì truyện ngắn chỉ là một lát cắt ngang của thân cây đó. Điều quan trọng là trên mặt cắt ấy phải nổi rõ những đường vân hiện thực. Đó là hướng tiếp cận và cách thức phản ánh của thể loại này.

Một khối lượng đồ sộ những tác phẩm truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu - người được mệnh danh là nhà văn tiên phong của quá trình đổi mới (Cỏ lau, Phiên chợ Giát, Khách ở quê ra, Bức tranh, Chiếc thuyền ngoài khơi, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành), Nguyễn Quang Lập (tiếng gọi phía mặt trời lặn), Nguyễn Huy Thiệp (Tướng về hưu), Nguyễn Quang Thiều (Hai người đàn bà xóm trại), Phạm Hoa (Đùa của tạo hoá), Tạ Duy Anh (Bước qua lời nguyền, Xưa kia chị đẹp nhất làng), Võ Thị Hảo (Biển cứu rỗi), Nguyễn Thị Thu Huệ (Hậu thiên đường), Y Ban (Bức thư gửi mẹ Âu Cơ), Phan Thị Vàng Anh (Khi người ta trẻ), Phan Triều Hải (Một tối ở quán bar) v.v... thực sự đã mang đến một nguồn sinh lực tràn trề cho thể loại. Cùng với sự gia tăng những tên tuổi mới và số lượng tác phẩm, truyện ngắn thời kỳ này đã mở ra nhiều hướng tìm tòi cả trong tiếp nhận hiện thực lẫn thi pháp thể loại. Đó là chiều sâu triết lý và những cảm nhận về nỗi cô đơn, của thân phận con người, là sự đan cài giữa cái ảo và cái thực, giữa chất thơ và văn xuôi... Những bước cách tân ấy đã tạo nên sắc diện mới và sự lôi cuốn cho thể loại. Những cuộc thi truyện ngắn liên tục, đều đặn của tạp chí Văn nghệ quân đội, báo Văn nghệ đã phát hiện nhiều tài năng mới. Có thể nói rằng, trong văn xuôi, truyện ngắn là thể loại đã khẳng định được vị trí của mình và có tầm ảnh hưởng rộng rãi nhất đối với đời sống văn học thời kỳ đổi mới.

Vào những năm 90, trên văn đàn xuất hiện một loại "truyện rất ngắn", còn gọi là "truyện ngắn mi-ni". Tiền thân của dạng truyện này là những "mẩu chuyện", khác với truyện vừa, truyện ngắn là những "câu chuyện". Sức hấp dẫn của truyện ngắn mi-ni chính là sự hàm súc, đúc đọng của ý tưởng và ngôn từ, trong đó có sự kết hợp giữa triết lý ngụ ngôn và chất thơ, giữa tính biểu tượng và hình ảnh thực, giữa cảm xúc và nhận thức lý tính. Sự đăng đàn của truyện ngắn mi-ni cho thấy độ co giãn của thể loại đang có nhiều biến động. Cuộc thi truyện rất ngắn do Tạp chí Thế giới mới tổ chức năm 1995 đã thuyết minh cho sự tồn tại độc lập của thể truyện này. Tuy nhiên, đây mới là những thể nghiệm bước đầu bởi truyện rất ngắn đòi hỏi một độ nhạy cảm cao và sự dẫn dắt khéo léo, nếu không rất dễ trở thành những câu chuyện ngụ ngôn hiện đại.

Trong văn học Việt Nam, ký là một thể loại nhạy bén, linh hoạt, luôn bám sát dòng chảy hiện thực vốn có nhiều biến động của đất nước suốt mấy chục năm chiến tranh. Từ những năm 30, các thể ký văn học đã được khẳng định với những tác phẩm phóng sự về nông thôn của Ngô Tất Tố, về đời sống của phu nghèo thành thị cùng mọi tệ nạn trộm cắp, cờ bạc... của Vũ Trọng Phụng, Tam Lang, về "Hà Nội ba sáu phố phường" qua những trang sách giàu chất thơ của Thạch Lam và đặc biệt là qua phong cách tùy bút, tài hoa độc đáo của Nguyễn Tuân. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, thể ký thực sự là một mũi nhọn xông xáo khắp các chiến trường khói lửa, các nẻo đường mưa tuôn nắng dội, len lỏi vào những ngóc ngách tận cùng của đời sống (Ký sự - Trần Đăng, Ký sự Cao Lạng - Nguyễn Huy Tưởng, Nhật ký ở rừng - Nam Cao, Tùy bút kháng chiến - Nguyễn Tuân, Bất khuất - Nguyễn Đức Thuận, Sống như anh - Trần Đình Vân, Người mẹ cầm súng - Nguyễn Thi, Những ngày nổi giận - Chế Lan Viên, Ký chống Mỹ - Nguyễn Tuân, Đường lớn - Bùi Hiển, Ký sự miền đất lửa - Vũ Kỳ Lân, Nguyễn Sinh, Rất nhiều ánh lửa - Hoàng Phủ Ngọc Tường...).

Nối tiếp truyền thống ấy, sang giai đoạn đổi mới, ký vẫn là thể loại nhạy cảm nhất trước những vấn đề thời sự xã hội. Sức mạnh của thể ký chính là sức sống nội tại của nguyên mẫu hiện thực. Bản thân quy luật vận động của đời sống đã lựa chọn cho nhà văn những con người, những sự việc mang tính điển hình. Thể ký cảm hóa lòng người, mang đến nhận thức và niềm tin cho độc

Page 116: Tieu Thuyet Nong Thon

giả từ những "người thật việc thật" ấy. Với tư tưởng dân chủ mạnh mẽ, với tinh thần sẵn sàng "dấn thân", nhập cuộc, ký đã trở thành thể loại tiên phong nhất của dòng văn học thời kỳ đổi mới, trên cơ sở tôn trọng hiện thực khách quan (tính xác thực của đối tượng "người thật việc thật"), ký đã góp phần đắc lực vào việc phản ánh trung thực những vấn đề bức xúc, nóng hổi nhất của đời sống hàng ngày. Khảo sát sự vận động của các thể ký văn học trong hai thập niên qua, người ta thấy nổi lên hàng đầu 2 thể tiêu biểu: phóng sự xã hội ở thời đoạn đầu và hồi ký văn học ở thời đoạn sau.

Phóng sự vốn được xem như một thể loại trung gian giữa văn học và báo chí. Những năm đầu thời kỳ đổi mới, báo chí là một phương tiện thông tin có khả năng chuyển tải nhanh nhất những vấn đề nóng hổi của thời sự xã hội. Trong lúc các thể loại khác cần thời gian để "tư duy" và nghiền ngẫm thì phóng sự xông xáo tiến vào hiện thực. Với tính nhạy bén, khách quan, ngay từ những bước đột phá đầu tiên, phóng sự đã gây được tiếng vang lớn. Thay vì biểu dương, tuyên truyền những tấm gương "người tốt việc tốt", ký giai đoạn này can đảm, thẳng thắn nhìn vào những mặt trái của đời sống xã hội với bao nhiêu chuyện đời ngang trái, éo le. "Cái đêm hôm ấy đêm gì" - Phùng Gia Lộc, "Người đàn bà quì" - Trần Khắc, "Câu chuyện về một ông vua lốp" - Nhật Linh, "Người lang thang không cô đơn" - Minh Chuyên, "Lời khai bị can" - Trần Huy Quang, "Suy nghĩ trên đường làng" - Ngô Ngọc Bội... đều là những hồi chuông thức tỉnh nhân tâm, tạo ra những phản ứng tích cực trong dư luận xã hội và đáp ứng một cách kịp thời tinh thần "đổi mới tư duy", "đổi mới cách nhìn người, nhìn sự việc" của những năm đầu thời kỳ chuyển hướng.

Giọng điệu của phóng sự thường mang tính khách quan cao. Người viết phóng sự thường giấu mình để cho con số, chi tiết, sự việc, nhân chứng lên tiếng. Bằng cách ấy, phóng sự đưa đến cho độc giả một niềm tin gần như tuyệt đối vào sự trung thực của ngòi bút nhà văn. Chính vì vậy, người viết phóng sự ngoài sự thông minh sắc sảo để phát hiện, nắm bắt vấn đề cần phải có ý thức trách nhiệm về ngòi bút của chính mình để không làm mất đi niềm tin của độc giả. Nghĩa là không đi ngược lại đặc trưng cơ bản nhất của thể loại. Từ những hiện tượng có thật của đời sống, phóng sự trong những năm đầu của thời kỳ đổi mới là luồng gió mạnh mang theo nhiệt tâm của những người cầm bút, xua đi tất cả những gì u ám, nặng nề, bảo thủ, trì trệ, góp phần lập lại sự công bằng dân chủ cho đời sống xã hội. Cao hơn hết là phải trân trọng con người, không dung tha những thế lực lộng hành chà đạp lên cuộc sống và nhân phẩm con người. Đó là ý nghĩa xã hội, giá trị nhân văn lớn nhất mà các cây bút phóng sự đã góp vào thành tựu chung của văn xuôi giai đoạn này.

Cùng với tư tưởng đổi mới nhất quán trong mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội, những năm vừa qua cũng là thời kỳ nhìn nhận, định vị lại nhiều giá trị văn chương cũ. Không phải ngẫu nhiên những năm cuối thập kỷ 90, trên văn đàn xuất hiện nhiều tác phẩm hồi ký, bút ký của các nhà văn, tạo nên một mảng sinh động của đời sống văn học mà có thể nói ngay rằng trước đó là chưa thể có. Nhiều sự kiện văn học trong quá khứ, nhiều số phận văn chương được tái dựng theo một cách nhìn mới. "Từ bến sông Thương" - Anh Thơ, "Cát bụi chân ai", "Chiều chiều" - Tô Hoài, "Chân dung và đối thoại" - Trần Đăng Khoa, "Vị giáo sư và ẩn sĩ đường", "Ba lần đến nước Mỹ" - Hà Minh Đức, "Nhớ lại một thời" - Tố Hữu... đều là những tác phẩm tạo được ấn tượng mạnh. Đáng chú ý hơn cả, gây xôn xao dư luận là những tác phẩm của Tô Hoài, Trần Đăng Khoa. Xung quanh những vấn đề của văn chương một thuở như chuyện đi thực tế sáng tác, chuyện lựa chọn nhân vật tích cực... giờ đây được một số nhà văn lập lại giả thiết mới cũng gây nhiều tranh cãi. "Chân dung và đối thoại" của Trần Đăng Khoa đã làm sôi động báo chí gần suốt một năm qua. Nhờ sự "hâm nóng" của "báo giới", cuốn sách của Trần Đăng Khoa được coi là "hiện tượng phê bình mới"(?) và trở thành cuốn sách Best-Seller trong năm. Ngoài những thành công không phủ nhận được của các tác phẩm hồi ký, một bài học thấm thía cho người cầm bút là phải hết sức trung thực, tuyệt đối không được bịa đặt, thêm thắt. Đó là một định lệ nghệ thuật bắt buộc người viết ký phải tuân thủ, nếu không tác phẩm sẽ mất đi rất nhiều giá trị.

Như đã trình bày ở trên, ngoài phóng sự và hồi ký, các thể ký khác hầu như vắng bóng trong văn xuôi thời kỳ này. Ký sự có thể cắt nghĩa bởi nó chỉ thích ứng với bối cảnh chiến tranh. Song trong khi truyện ngắn "tăng trưởng" rất nhanh thì truyện ký rất ít khi xuất hiện. Thơ văn xuôi có tỉ lệ cao hơn nhiều so với trước đây thì tùy bút lại rất thưa thớt, rất ít thành tựu. Phải chăng đó là sự phản

Page 117: Tieu Thuyet Nong Thon

ánh những đặc điểm tư duy, thị hiếu thẩm mỹ của thời đại "nghe nhìn"? Thực tế là cùng với sức mạnh của báo chí, ký văn học cũng ngày mỗi hiện đại hơn. Thi pháp thể loại cũng có nhiều tìm tòi. Ngoài khả năng kết hợp tư duy lôgích với tư duy hình tượng, giọng điệu sắc bén, tỉnh táo bên giọng trữ tình, thuyết minh... ký hiện đại đòi hỏi một lối viết mạch lạc, gọn và đặc biệt là nhiều hàm lượng thông tin. Ngoài các nhà văn tên tuổi, rất đông đảo một lực lượng các cây bút trẻ đang trưởng thành và bước đầu khẳng định phong cách của mình như Văn Chinh, Xuân Ba, Nguyễn Việt Chiến, Huỳnh Dũng Nhân... Chính họ đã mang đến sức trẻ khỏe cho dòng văn học trên báo chí trong suốt thời gian qua.

Nhìn chung, gần 20 năm qua của thời kỳ đổi mới, các thể loại trong dòng văn học đương đại Việt Nam đã có những bước vận động và phát triển tích cực theo chiều hướng hiện đại. Không kỳ vọng vào một cuộc cách mạng văn chương duy tân như thời đại 1930-1945, nhưng rõ ràng văn học Việt Nam bước đầu đạt được nhiều thành tựu về thể loại và đang trên đà hiện đại hóa. Dưới áp lực cạnh tranh của các phương tiện nghe nhìn, văn học đang cố "thu mình lại", lựa chọn một "khuôn hình" thể loại đáp ứng được thị hiếu văn chương và nhu cầu thông tin thời hiện đại. Trong khi đời sống toàn cầu mở ra những triển vọng giao lưu giữa các vùng văn hóa, giữa văn hóa và văn học... tạo nên nhiều cầu nối liên ngành thì trong nội bộ văn học, hiện tượng giao thoa giữa các thể loại có thể coi là một đặc điểm nổi bật. Nhìn vào sự vận động của chúng, tuy ranh giới không bị xóa nhòa, người ta thấy rất rõ sự thâm nhập, pha trộn, chuyển hóa lẫn nhau giữa các thể loại. Chính từ những vùng sóng giao thoa này, các thể loại cũ đã có thêm những tố chất mới.

Về mặt nguyên lý, sức sống của một thời đại văn học phụ thuộc vào sự phong phú và khả năng hồi sinh, đổi mới của các thể loại. Văn học Việt Nam trong thời gian qua và cả trong kỷ nguyên tới đang vận động và phát triển theo chiều hướng song song ấy.

Hà Nội 3-2001L.H.T(186/08-04)

-----------------------1.M.Bakhtin - Những vẫn đề về thi pháp Đôxtôiepxki.2. Nguyễn Khải - Gặp gỡ cuối năm

Văn học về nông thôn:

Miền đất cô đơn!

Thứ Năm, 15/09/2011 10:10

Đã qua lâu cái thời người đọc sung sướng và “ngấu nghiến” đọc khi bắt gặp những tác phẩm văn xuôi của Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy, Ngô Phan Lưu… Những tác phẩm hay viết về nông thôn ngày càng vắng vẻ, độc giả chờ đợi, hy vọng rồi buông xuôi. Có vẻ như “miền đất hứa” một thời của văn học Việt Nam đã lại xa xôi, tít mù.

Những “nụ mầm” mới

Trong quá khứ, văn xuôi viết về nông thôn được coi như “mảnh đất khá màu mỡ” để các nhà văn yên tâm “thâm canh”. Nhiều tác phẩm viết về nông thôn đến nay vẫn còn giá trị như Thời xa vắng (Lê Lựu), Khách ở quê ra (Nguyễn Minh Châu), Bến không chồng

Page 118: Tieu Thuyet Nong Thon

(Dương Hướng), Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường)…Văn xuôi viết về nông thôn được coi là món lạ miệng với nhiều tầng lớp độc giả. Những phong tục, tập quán, cảnh sắc và cách ứng xử đậm màu rừng ruộng là những điểm “hút” không bao giờ cũ của nhiều tác phẩm hay về nông thôn.

Điều lạ lùng về sức hút của văn học viết về nông thôn là không chỉ những người ở thành phố mới quan tâm và thấy thú vị khi đọc những trang viết này mà kể cả những người sinh trưởng ở chính những miền đất đi vào văn học ấy cũng nguyên vẹn niềm thích thú. Niềm phấn khởi và hy vọng càng được nhân lên khi Cánh đồng bất tận (Nguyễn Ngọc Tư), Muối của rừng, Thương nhớ đồng quê, Những người thợ xẻ (Nguyễn Huy Thiệp), Sông Hậu xuôi về, Bến nước kinh cùng (Nguyễn Lập Em)… ra đời và giống như những liều thuốc gây nghiện hảo hạng từ một thứ nguyên liệu rất thô sơ.

Nhiều năm về trước, nhiều tác phẩm văn xuôi viết về nông thôn của các tác giả Việt Nam được đánh giá vượt qua thử thách về thời gian, xuất sắc vượt qua “cửa ải” “cả thèm chóng chán” mà nhiều loại hình nghệ thuật mắc phải. Thời xa vắng (Lê Lựu), Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường), Cánh đồng bất tận (Nguyễn Ngọc Tư) còn được chuyển thể thành những phim truyền hình, điện ảnh nghệ thuật ăn khách hiếm hoi của Việt Nam. Chưa nói đến những tác phẩm dài hơi, kỳ công, hầu như mọi tờ báo đều

Page 119: Tieu Thuyet Nong Thon

có hẳn một góc cảm nhận về những phong tục, đặc sản nông thôn ba miền và thu hút độc giả không kém những bài viết “đao to búa lớn”.

Miền xa vắng...!

Trong bối cảnh nông thôn ngày nay có nhiều biến đổi, người đọc càng khao khát được đọc những tác phẩm văn xuôi hay, dù viết về những điều vô cùng mộc mạc đơn sơ như bãi mía, bờ tre, ngọn lau, sông rạch…Thế nhưng, giữa thực tế nông thôn ngày càng nhộn nhịp và đổi mới thì ngược lại mảng văn xuôi viết về nông thôn lại đang có nguy cơ trở thành “miền đất cô đơn”.

 Văn học về nông thôn đang rất cần những tác phẩm có giá trị.

Những Tiếng đàn môi sau bờ rào đá đã tắt, Buổi sáng biến mất, Xa lắc Cồn Te, Luôn hy vọng để rồi luôn thất vọng, người đọc quá say mê những chuyện kể nông thôn chỉ còn biết lật lại những trang viết cũ, tấm tắc vì cái hay, cái  đẹp của một thời mà thôi. Nói như thế không có nghĩa là các nhà văn trẻ bây giờ đã “tắt ngòi” đề tài nông thôn. Họ - một lượng người viết trẻ ít ỏi viết về nông thôn vẫn cố gắng nhưng có lẽ “duyên” chưa “mặn”, những trang viết của họ vẫn chưa chạm ngưỡng những thành tựu văn xuôi viết về nông

Page 120: Tieu Thuyet Nong Thon

thôn trước đó. Những cây bút được xưng tụng là những nhân tố mới cho đề tài nông thôn như Đỗ Tiến Thụy, Hồ Kiên Giang, Võ Thị Hồng Tơ, Vũ Hồng…trên thực tế chưa vượt qua được “cái bóng” của những cây bút viết về nông thôn đi trước.

Nói một cách thẳng thắn, hiện nay, nhiều người viết trẻ tìm cách né tránh đề tài nông thôn. Họ đồng loạt lao vào những lát cắt thành thị, những vấn đề xã hội câu khách và chấp nhận những kiểu thành công “nửa mùa”. Những cuốn sách như vậy được bán tràn lan trên thị trường và câu khách bằng những kiểu giật tít hoặc khêu gợi hoặc “chặt chém”. Không còn nhiều người viết trẻ viết nhiều và viết hay về nông thôn, dù phần đa các nhà văn ta sinh trưởng và thừa vốn sống về miền đất còn nhiều tầng vỉa bí ẩn và kỳ thú này.

Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp từng có truyện ngắn Bài học nông thôn được nhiều độc giả yêu thích. Để văn học đề tài nông thôn sống lại, thiết nghĩ chúng ta không chỉ cần phải có một bài học mà còn phải thiết lập thành cả một môn học, một môn học khó nhưng đầy triển vọng đi vào lòng người.     

Sa Nam

CẢM HỨNG THẾ SỰ -

ĐIỂM GẶP GỠ VÀ KHÁC BIỆT GIỮA TIỂU THUYẾT HỒ BIỂU CHÁNH VỚI TIỂU THUYẾT MIỀN BẮC GIAI ĐOẠN 1900 –1930

Ths. Huỳnh Thị Lan Phương

Ts. Nguyễn Văn Nở

(Bài đã đăng trên tạp chí Nghiên cứu Văn học số 4, 2010, Viện Văn học,

từ trang 35 đến trang 53)

1. Mở đầu :

Ở Việt Nam, tiểu thuyết đã xuất hiện từ thời kì trung đại. Theo Thanh Lãng, tác giả quyển “Bảng lược đồ văn học Việt Nam” thì tiểu thuyết bắt đầu có từ thế kỉ XVI, XVII, thịnh hành vào thế kỉ XVIII. Thanh Lãng cho rằng tiểu thuyết trung đại “tôn trọng cổ nhân, các nhà viết tiểu thuyết Việt Nam ít khi nghĩ đến sáng tạo ra một đề tài mới, mà ngược lại thì thường mượn cốt truyện của Trung Hoa rồi tu sửa lại” (1). Bàn về vấn đề này, Phạm Quỳnh cũng nêu rõ: “Văn chương ta xưa nay thường lấy sự mập mờ phảng phất làm hay, càng

Page 121: Tieu Thuyet Nong Thon

phiếu diễu bao nhiêu càng huyền diệu bấy nhiêu nên ít dùng lối tả thực, coi là tầm thường” (2)

Đầu thế kỉ XX, các tiểu thuyết gia Việt Nam vẫn còn quan niệm “văn dĩ tải đạo”. Tuy nhiên, sống trong hoàn cảnh xã hội có nhiều đổi thay, nhiều nhân tố mới đang hình thành và ngày càng phổ biến (chữ quốc ngữ, giáo dục theo tân học, lối sống mới theo phương Tây...), người cầm bút tất yếu phải có sự chuyển biến dần trong quan niệm sáng tác. Họ không đồng tình với việc dựa vào sách Tàu, truyện Tàu hay lịch sử Tàu để sáng tác. Họ chủ trương nhìn vào cuộc sống hiện tại để lắng nghe những xao động của cuộc đời, thấu hiểu nhân tình thế sự. Họ thích nói về những con người của hôm nay, thậm chí bắt đầu muốn nói về chính mình. Những suy nghĩ và quan niệm mới ấy lại được thời đại chấp nhận. Hãy nghe Phạm Quỳnh nói về Tản Đà thì sẽ nhận rõ điều trên: ”Tôi khen nhất ông Hiếu là con mắt sành, biết nhận những điều éo le trong nhân tình thế sự, mà khéo lấy mấy câu văn hình dung được một cảnh người” (3) Chính vì thế mà Cảm hứng thế sự đã trở thành phổ biến trong tiểu thuyết đầu thế kỷ XX.

Vào buổi bình minh của văn xuôi quốc ngữ, tiểu thuyết ở hai miền Nam, Bắc còn mang nhiều nét riêng biệt. Các tác giả Nam bộ có công đi đầu trong việc hiện đại hóa tiểu thuyết và tạo nên những bước đột phá lớn. Trong khi đó, tiểu thuyết miền Bắc ra đời trên vùng đất “ngàn năm văn dật”, không dễ dàng chối bỏ truyền thống. Có nhiều điều khiến tiểu thuyết hai miền chưa “gặp nhau” để cùng tạo nên đặc điểm chung cho tiểu thuyết hiện đại ở giai đoạn mới hình thành.

Hồ Biểu Chánh là cây bút tiểu thuyết “sáng giá” nhất ở Nam bộ. Ông đã có nhiều thử nghiệm để đưa tiểu thuyết Việt Nam đi vào con đường hiện đại hóa. Trên cái nền của truyền thống, có thêm chất xúc tác của văn học phương Tây, ông đã đạt được những thành công đáng kể. Trong quá trình thử nghiệm, Hồ Biểu Chánh cũng như nhiều tác giả Nam bộ khác, đã có sự gặp gỡ mà cũng còn nhiều khác biệt với các tác giả miền Bắc trong việc thể hiện vấn đề, trong quan niệm về cuộc sống và con người... Tìm hiểu vấn đề từ góc độ này sẽ có thêm cơ sở để đánh giá đúng mực hơn về tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh.

2. Cảm hứng thế sự trong sáng tác Hồ Biểu Chánh và các tác giả miền Bắc:

2.1. Vấn đề đạo đức và lối sống trong buổi giao thời:

Hồ Biểu Chánh và các nhà văn miền Bắc đã “gặp nhau” ở chỗ cùng tìm thấy cảm hứng sáng tác từ cuộc sống đầy biến động trong buổi giao thời. Những đổi thay của xã hội trên con đường tư sản hóa trở thành đối tượng được quan tâm miêu tả trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh và cả tiểu thuyết miền Bắc. Tái hiện lại gương mặt xã hội đương thời là niềm say mê của người cầm bút bấy giờ, đồng thời còn là nhu cầu thúc bách của thời đại. Nhà văn lúc này chịu sự tác động mạnh từ phía độc giả, họ đã “hết ham sự hoang đường, hết ham trò

Page 122: Tieu Thuyet Nong Thon

trinh thám mà nay đã biết ham những truyện xảy ra ở trong hoàn cảnh của mình, có dính dáng với cái phong tục thực có của dân gian, có quan hệ đến cái chế độ hiện thời” (4)

Sau khi hoàn thành công cuộc bình định ở Việt Nam, đầu thế kỷ XX thực dân Pháp đã đặt bộ máy cai trị của chúng lên toàn cõi đất nước ta. Bắc kì, Trung kì là xứ bảo hộ. Nam kì là đất thuộc địa. Tuy có sự khác biệt trong chế độ quản lí của chính quyền thực dân ở từng miền, nhưng đâu đâu trên đất nước này cũng nằm dưới sự thống trị của Pháp. Mọi người Việt Nam đều có chung số phận: dân nô lệ. Bão táp chiến tranh đã cuốn phăng đi nhiều giá trị truyền thống, đưa cả nước đến với lối sống mới, lối sống tự do theo tư sản. Lối sống mới tấn công quyết liệt vào nền nếp cũ. Nó hình thành lắm cái mới lạ có tính chất tiêu cực, đẩy phong hóa, đạo đức xã hội đến bờ vực của sự suy thoái. Con người bắt đầu sống cho cá nhân, chạy theo tiền tài, danh vọng... Những gì thuộc về luân lí, đạo đức, phong tục... đều bị bỏ lại phía sau. Đây là thời kì:

“Luân thường đổ nát, phong hóa suy

Tiết nghĩa rẻ rúng, ân tình ly” (Tả

n Đà) Vì thế, vấn đề phong hóa, đạo đức, lối sống trở thành vấn đề bức xúc của xã hội, được nhiều người quan tâm. Hơn thế nữa, mọi người còn tỏ ra rất lo lắng. Các bậc trí thức, các nhà cách mạng đương thời đều ra sức tìm kiếm một giải pháp cho vấn đề trên. Có người còn xem đó như một nhiệm vụ chính trị, có tính chất cấp bách. Để đạt được mục tiêu “chấn hưng dân khí” những nhà cách mạng theo xu hướng dân chủ tư sản cũng chú trọng đến nền đạo đức của xã hội đương thời. Nhiều trí thức Việt Nam, trong đó có những người cầm bút sáng tác tin tưởng rằng một khi phong hóa, đạo đức xã hội tốt đẹp thì mọi vấn đề khác của xã hội cũng trở nên tốt đẹp. Nhà văn vốn là người rất nhạy cảm trước cuộc sống. Mọi hiện tượng đổi thay của cuộc sống đều có tác động đến họ. Họ không làm ngơ trước thế sự, mà còn tích cực vận động, tuyên truyền vì sự bảo tồn phong hóa, đạo đức truyền thống của dân tộc. Thực trạng phong hóa, đạo đức, lối sống xã hội đang là nỗi trăn trở day dứt của các tác giả tiểu thuyết miền Bắc lẫn Hồ Biểu Chánh. Nó đã cuốn hút họ đi vào tìm hiểu sự việc, phát hiện ra sự thật của nhiều vấn đề.

Với cái nhìn khá tinh tế, tuy còn chủ quan nhưng các nhà văn miền Bắc đã khái quát được những nét tiêu biểu của xã hội “đương buổi giao thời”, đang bị cuốn vào cơn lốc của quá trình tư sản hóa. Như con dao hai lưỡi, tư sản hóa vừa tạo nên một vài nhân tố tích cực cho nền kinh tế của đất nước, vừa ảnh hưởng tiêu cực đến đạo đức xã hội. Nó “cứa” vào đúng những gì được người Việt Nam nâng niu, gìn

Page 123: Tieu Thuyet Nong Thon

giữ bấy lâu nay: thuần phong mĩ tục. Đặng Trần Phất đã thốt lên những lời xót xa: ”Người mình thường nhiều người hiểu lầm cái phong trào tự do bình đẳng, giữ theo thái độ quá ư vô tình với đường đạo đức, rẻ rúng phong hóa, ngoài xã hội, trong gia đình thường thấy thói kiêu bạc, phóng đãng của người mình hiển hiện ra hằng ngày, đâu xa.

Ôi luân thường đảo ngược, đạo đức suy đồi, phong tục suy vi là ba cái trở lực của con đường văn minh tiến bộ nước ta sau này vậy. . .” (5)

“Cành hoa điểm tuyết”, xuất bản năm 1921, là bức tranh xã hội được Đặng Trần Phất vẽ lại bằng chất liệu ngôn từ, đã tái hiện khung cảnh thành thị Việt Nam trong những năm tháng đất nước đau đớn chuyển mình sang nền kinh tế tư bản. Lối sống tự do, ăn chơi, hưởng thụ theo đúng tinh thần của chủ trương “khai hóa”, mà thực dân Pháp khéo léo đặt ra, đã lôi kéo bao thanh niên Việt Nam đi vào con đường hư hỏng bê tha, hủy hoại cả tương lai. Nhân vật công tử Liễu Oanh trong tác phẩm là trường hợp tiêu biểu. Vốn là một thanh niên không siêng năng học hành nhưng Liễu Oanh cũng là loại người biết đạo lí, trọng gia đình, một lòng yêu vợ, vâng lời cha mẹ. Anh ta thuộc con nhà nề nếp gia phong. Chính lối sống ăn chơi hưởng thụ đang thịnh hành ở chốn thành thị đã kéo anh ta vào cảnh nghiện ngập, cờ bạc đến mức bê tha hư hỏng. Từ một công tử con nhà quyền quý, anh ta nhanh chóng bị biến thành một kẻ nợ nần như chúa chổm. Gia đình anh đã sớm bị đổ vỡ, vợ chồng chia lìa, đứa con nối dõi tông đường cũng không còn. Anh ta phải sống những ngày tháng cô độc nơi đất khách quê người. Lúc trở về nước, tuy được nhận lấy chút niềm an ủi từ người vợ mà anh hết lòng thương yêu, thế nhưng anh lại phải trả giá cho những ngày tháng sống buông thả, ăn chơi bằng sự hao mòn thể xác lẫn tinh thần và kết thúc là cái chết.

Đọc đến trang “lệ sử” của nàng Kim Anh trong “Kim Anh lệ sử” của Trọng Khiêm, chúng ta được biết đến xã hội miền Bắc vào thời “Âu hóa”. Con người như đang quay cuồng trong nhịp sống hỗn loạn. Đạo đức truyền thống bị đánh bật trước sức mạnh đồng tiền và quyền lợi cá nhân ích kỉ. Xã hội đó là nơi trú ngụ, là đất làm ăn của những con người dường như không còn tính người. Họ đã dùng thân xác phụ nữ làm công cụ kiếm tiền cho riêng mình. Mụ Ký Nem, Quản Tám là những Tú Bà hiện đại. Những năm đầu thế kỉ XX, phong trào Âu hóa còn đang giai đoạn ấu trĩ, thế nhưng trong cái nhìn của Trọng Khiêm, xã hội đã ngập ngụa dưới lớp bùn đen. Nhìn đâu cũng thấy sự xấu xa, thối nát đến mức đáng sợ. Bọn quan lại háo sắc, hám tiền đến bất nhân, đã đẩy cô Kim Anh hiền lành trong trắng vào kiếp sống đọa đày, bất hạnh. Những kẻ có tiền, có chút học vấn như kĩ sư Roger (tên thật là Trần Thình) cũng xem Kim Anh như một thứ đồ chơi biết nói, chuyền tay nhau để hưởng thụ cho thỏa thích, nhẫn tâm ruồng bỏ không chút thương xót. Ngoài chốn trần thế đã vậy, nơi tu hành có khác gì! Một lũ sư hổ mang xuất hiện trong tác phẩm, như loài yêu quái bám riết cuộc đời Kim Anh, đẩy nàng đến bước đường cùng,

Page 124: Tieu Thuyet Nong Thon

không còn lối thoát, phải tìm đến cái chết để kết thúc cuộc đời khổ ải của mình.

Nhìn chung, tiểu thuyết miền Bắc tập trung phản ánh tình trạng suy thoái đạo đức. Qua cách thể hiện của các tác giả, nguyên nhân của vấn đề xuất phát từ sự tấn công của lối sống mới, đồng thời cũng do chính sự hư hỏng và sa sút về đạo đức của người đời, những con người thích dựa vào uy quyền, phép tắc của phong kiến để mưu cầu quyền lợi ích kỉ cho chính mình. Xã hội đó không ít những kẻ như ông Hàn (Cuộc tang thương - Đặng Trần Phất), đã mượn thuyết “tam tòng” của Nho giáo để ép vợ phải cúi đầu chấp nhận bao việc làm trái đạo của chồng. Bà Hàn chịu nhiều cay đắng cũng vì quan niệm “Trai năm thê bảy thiếp”, mà ông Hàn “tích cực” vận dụng để thoả mãn thú khoái lạc của mình, bất chấp tình nghĩa vợ chồng, đạo lí ở đời. Các tác giả miền Bắc thể hiện rõ nỗi bất bình xã hội, mạnh dạn phê phán cái xấu và không ngần ngại đả phá những gì đang làm hư hỏng đạo đức truyền thống. Thế nhưng, dường như họ đã mất niềm tin vào tương lai. Kết thúc tác phẩm thường không có hậu (Cành hoa điểm tuyết, Kim Anh lệ sử, Cuộc tang thương, Tố Tâm). Các nhân vật dù là hiền lành , đáng thương như Kim Anh (Kim Anh lệ Sử), Ngô Tòng (Cuộc tang thương) hay đáng được thông cảm như Liễu Oanh (Cành hoa điểm tuyết) đều nhận lấy cái chết thật thương tâm. Phải chăng, các nhà văn cũng mất niềm tin ở xã hội hiện tại. Mặc dù thế, họ vẫn không bộc lộ mong muốn đổi thay xã hội, cũng không bàn đến những giải pháp chấn chỉnh lại xã hội đương thời. Tiểu thuyết miền Bắc tiếp tục thể hiện nội dung của văn học hiện thực trào phúng giai đoạn cuối thế kỷ XIX, chỉ chú trọng đến phê phán hiện thực, tỏ rõ nỗi bất bình mà chưa quan tâm đi tìm giải pháp cứu nguy cho xã hội.

Hơn thế, cảm giác chán ngán chuyện đời, bất mãn thế sự như đang bao trùm trong tiểu thuyết miền Bắc. Sống giữa thời buổi giao tranh gay gắt, dữ dội của hai nền văn hóa Đông – Tây, các nhà văn cảm thấy như bị hụt hẫng. Họ hoài nghi những gì của phong kiến, mà cũng chưa dám tin theo tư sản. Đặng Trần Phất cho rằng đau khổ ngang trái trong cuộc đời là chuyện tất yếu, không tránh được, mà cũng không thể khác hơn. Thậm chí ông còn quan niệm cuộc sống phải có đau khổ mới thể hiện đầy đủ tính chất của cuộc sống:”Đời như tấn kịch có vui có buồn, có khổ có sướng, có người trung có kẻ nịnh, có đứa giết người, có người nhân đức, nếu đời toàn người nhân đức, ai cũng giữ đạo đức, không ai xâm phạm tranh cạnh tàn ác với ai, thì đời không là đời, đời không còn cái vẻ sinh hoạt lung linh nữa, mà chỉ là một bãi sa mạc mông mênh chứa toàn cỏ héo cây khô mà thôi.” (Cuộc tang thương). Bên trong lời giải thích ấy chứa đựng sự cam chịu, bất lực của người đời. Đó là lời của những người không tìm ra lối thoát, không giải thích được nguyên nhân của sự khổ đau trong cuộc sống.

Nhân vật trong tiểu thuyết Đặng Trần Phất, nếu tích cực bảo vệ lối sống cũ theo quan niệm đạo đức phong kiến, thì trở thành kẻ cô đơn trong xã hội đương thời, như nhân vật Ngô Tòng. Với một số đoạn

Page 125: Tieu Thuyet Nong Thon

văn miêu tả nội tâm nhân vật, dù chưa sắc xảo, tác giả vẫn thể hiện được những cảm nhận của nhân vật về sự lạc lõng giữa thế giới xô bồ, hỗn tạp mà anh ta đang sống. Cái chết đau khổ, đầy uất ức của Ngô Tòng gợi nên không ít băn khoăn cho người đọc khi nghĩ đến vấn đề cần phải duy trì lối sống cũ trong hoàn cảnh hiện thời. Đặng Trần Phất cũng hiểu được con người cá nhân đã có nhu cầu sống cho cái tôi. Vì “Đời bây giờ là đời hoàng kim ích kỷ, ai có thân ở đời cũng chỉ có cái mục đích là làm cho thân được ấm no sung sướng, không mấy người cho cái thân có quan hệ đến nước”. Thật không ngẫu nhiên chút nào khi nhà văn để cho nhân vật bà Phán, nhân vật vợ Ngô Tòng có thái độ bất bình trước lối sống theo khuôn khổ phong kiến còn đang tồn tại, đã ngăn cấm sự tự do và hưởng thụ của người đời. Thế nhưng, cái tôi lúc này bị đặt trước lễ giáo phong kiến hãy còn đang mạnh lắm. Sống cho riêng mình, bấy giờ, được quan niệm như sống cho những dục vọng xấu xa, là tất yếu sẽ dẫn đến phạm tội, không cách nào gột rửa được vết nhơ (trường hợp của Ngọc Lan, trong Cuộc tang thương). Thế thì, con người phải sống thế nào đây? Câu hỏi đó chưa tìm thấy lời giải đáp trong tiểu thuyết miền Bắc, không riêng gì tác phẩm của Đặng Trần Phất.

Hoàng Ngọc Phách cũng từng có ý định để cho nhân vật của mình, Tố Tâm và Đạm Thủy, từ bỏ gia đình, công danh, sự nghiệp để chạy theo lối sống tự do của tư sản; để được trọn quyền yêu nhau, được sống cho chính mình, được tận hưởng những gì mà lễ giáo phong kiến không cho phép. Nhưng Tố Tâm và Đạm Thủy đã không thể làm được như thế. Họ phải quay đầu lại, tự đặt mình vào khuôn khổ của gia đình phong kiến, phải sống cho chữ hiếu, cho chữ tín, không có quyền sống cho mình. Mà con đường nào họ chọn lúc ấy cũng là con đường đi đến đau khổ mà thôi. Hoàng Ngọc Phách bế tắc khi chọn lựa lối sống thích hợp trong xã hội đương thời. “Tố Tâm“ được viết với cảm hứng lãng mạn nhưng vẫn nói lên được thế sự. Khi mà đạo đức phong kiến đang bị đẩy đến chỗ suy thoái, đạo đức tư sản đang hình thành và phổ biến thì con người trở nên lúng túng rất nhiều trong lối sống, thậm chí bị rơi vào bi quan chán nản hay tuyệt vọng.

Cùng một hướng nhìn với các tác giả miền Bắc, Hồ Biểu Chánh cũng nhận thấy sự sa sút nghiêm trọng về đạo đức ở xã hội Nam bộ vào những năm đầu thế kỷ XX. Là một trí thức có tinh thần dân tộc, nặng nỗi lo đời, Hồ Biểu Chánh luôn lo lắng trước tình trạng: “làn sóng vô luân lí, vô giáo dục này nó càng lên mạnh thêm hoài, nếu không đi tìm phương mà ngăn cản, thì nó sẽ tràn ngập khắp trong nước rồi cái xã hội Việt Nam khi xưa tôn trọng đạo đức nên được cứng cỏi sẽ thành ra một xã hội hỗn độn tham lam nên phải thấp hèn yếu ớt” (Đoạn tình). Hồ Biểu Chánh đã nhìn thẳng vào hiện thực và mạnh dạn phơi bày tất cả sự băng hoại đạo đức đang diễn ra trong xã hội đương thời. Nếu như tiểu thuyết miền Bắc tập trung phản ánh một vài khía cạnh cho thấy sự suy thoái của đạo đức xã hội, thì tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh thể hiện cái nhìn vừa bao quát , vừa cụ thể về thực trạng

Page 126: Tieu Thuyet Nong Thon

phong hóa, đạo đức xã hội. Khác với tiểu thuyết miền Bắc, tập trung thể hiện sự sa sút đạo đức ở các gia đình phong kiến và số phận bất hạnh thường rơi vào những người thuộc tầng lớp trên (Kim Anh - Kim Anh lệ sử, Liễu Oanh – Cành hoa điểm tuyết, Ngô Tòng- Cuộc tang thương), tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh đã thể hiện những vấn đề xảy ra từ trong gia đình đến ngoài xã hội. Những câu chuyện được ông đề cập có liên quan đến mọi hạng người, thuộc đủ mọi thành phần: trí thức lẫn bình dân; giàu và nghèo; tốt lẫn xấu. Hồ Biểu Chánh đã xây dựng trong tác phẩm của mình một thế giới nhân vật đa dạng. Mặc dù ông còn theo cách miêu tả truyền thống, chú trọng vào ngoại hình, hành động và ngôn ngữ nhân vật nhưng chính từ yếu tố không mới này ông lại làm nên nét riêng, thể hiện thành công hình ảnh và số phận của con người Nam bộ. Hơn nữa, không gian nghệ thuật ở tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh có tính chất mở rộng. Nó không chỉ là không gian nội thất mà còn là không gian xã hội. Đó là không gian cụ thể, xác định, ông nhắc đến từng địa danh của vùng đất Nam bộ, từng tên đường ngày ấy của phố phường Sài Gòn. Chính vì thế nội dung hiện thực trở nên sinh động, sống thực và gần gũi. Cuộc sống ngoài đời hiện lên mồn một trong tác phẩm của Hồ Biểu Chánh. Và cũng nhờ vậy mà người đọc có được cảm nhận: tình trạng suy thoái đạo đức là vấn đề chung của xã hội. Cái thiện, cái ác không là của riêng ai. Bất kì ai cũng có thể bị lôi kéo vào con đường hư hỏng, tha hóa.

Hồ Biểu Chánh đã khai thác triệt để ưu thế của thể loại văn xuôi tự sự, trên chiều dài và độ sâu cho phép của tác phẩm, ông thể hiện một cách cụ thể, đa dạng những gì quan sát được, cũng là những gì ông trăn trở nhiều nhất. Một người luôn mong muốn “quần chúng đi theo con đường quang minh chính đại” như ông, thì làm sao có thể bình thản trước cảnh trong các gia đình người Nam bộ thời đó phổ biến chuyện: bỏ vợ (Cay đắng mùi đời); ngoại tình (Cha con nghĩa nặng, Thầy thông ngôn, Khóc thầm); tranh giành gia tài (Nhân tình ấm lạnh); cha mẹ dùng bạo lực để cưỡng ép hôn nhân con cái, hôn nhân trở thành chuyện đổi chát vô liêm sĩ, “duyên” con đem gá lại cho mẹ (Tiền bạc bạc tiền), ...Trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh, án mạng thường xảy ra. Có án mạng do ghen tuông (Khóc thầm, Thầy thông ngôn, Cha con nghĩa nặng), có án mạng do lòng tham và tính ích kỉ, gian ác của người đời (Ai làm được). Với cảm quan của nhà văn nặng cân đạo lí, đó là biểu hiện của sự suy thoái nghiêm trọng về đạo đức, lối sống.

Ngoài xã hội, Hồ Biểu Chánh nhận thấy chuyện “nhân tình ấm lạnh “đã trở thành thói đời phổ biến. Loại người như quan Huyện trong Chúa tàu Kim Quy, vợ chồng Tú Cẩm trong Ngọn cỏ gió đùa, Đỗ Thị trong Tiền bạc bạc tiền... ngày càng đông đảo, như đang hợp thành thế lực hắc ám, bủa vây, hãm hại bao người hiền lương, vô tội. Cho nên mới xảy ra thảm cảnh ở gia đình Thủ Nghĩa (Chúa tàu Kim Quy), mới có bi kịch của Lý Ánh Nguyệt (Ngọn cỏ gió đùa),...

Page 127: Tieu Thuyet Nong Thon

Ống kính vạn năng của Hồ Biểu Chánh đặt ở góc nhìn đạo đức, lối sống đã phát hiện ra nhiều vấn đề nhức nhối của xã hội đương thời. Hồ Biểu Chánh cũng như nhiều nhà văn Miền Bắc có chung tâm trạng với Tản Đà, hoang mang, lo lắng đến tột cùng:

“ Văn minh đông Á trời thu sạchNày lúc luân thường đảo ngược ru”

Hồ Biểu Chánh tỏ ra rất bất bình trước cái xấu nhưng ông chưa bất mãn và mất niềm tin vào tương lai tốt đẹp. Tác phẩm của ông luôn hé mở một viễn cảnh tươi sáng, kẻ ác sẽ bị trừng phạt, cái xấu sẽ bị loại trừ. Và người tốt bao giờ cũng được hạnh phúc, dù phải trải qua nhiều vất vả gian truân, cái tốt không bao giờ bị tiêu diệt bởi cái xấu. Hồ Biểu Chánh quan niệm cuộc đời và người đời luôn có hai mặt tốt xấu, cho nên không quá tự mãn mà cũng không nên bi quan, mặc cảm. Ông còn cho rằng: được tốt hay bị rơi vào cái xấu cũng do ở chính bản thân của mỗi con người. Sự sáng suốt, có bản lĩnh vững vàng sẽ tạo cho con người chất đề kháng tốt đối với cuộc sống có nhiều cạm bẫy như bấy giờ. Thật không ngẫu nhiên chút nào khi tác giả để cho nhân vật Tư Lựu (Con nhà nghèo) chỉ tự trách mình, dù bị cậu Hai Nghĩa bỏ rơi trong tủi nhục, khổ đau: ”Nếu người ta ỷ quyền ỷ thế mà hãm hiếp, mình nghèo hèn nên không dám chống cự, thì mình phải liều thân giữ cho vẹn danh tiết của mình, chớ sao mình thuận tùng để người ta lấy cho đến có chửa rồi mình nói người ta hãm hiếp? Không được, cái lỗi của em lớn lắm, không thể nào em đổ cho ai được đâu”(Con nhà nghèo). Theo Hồ Biểu Chánh, thực trạng của vấn đề đạo đức trong xã hội đương thời đáng để lo lắng nhưng có thể sửa đổi, chấn chỉnh được. Vì thế ông tích cực rao giảng đạo lí, cảm hóa người đời bằng nhiều hình thức. Khác với các tác giả miền Bắc, Hồ Biểu Chánh đã trăn trở nhiều về việc tìm giải pháp chấn chỉnh đạo đức, xác định lối sống phù hợp cho con người trong xã hội đương thời. Một chữ tình, Chút phận linh đinh...thể hiện những suy tư, đắn đo không ít của tác giả cho vấn đề nên sống khuôn khổ theo phong kiến hay sống tự do theo tư sản.Với ông, lối sống cũ (theo phong kiến), lối sống mới (theo tư sản) đều có cái hay cái dở riêng. Ông không bài bác bên nào, mà cũng không đứng hẳn về bên nào.

Hồ Biểu Chánh chủ trương dung hoà cũ mới, hòa hợp Á - Âu, trong mức độ không rời xa truyền thống. Quá cứng nhắc theo phong kiến, con người sẽ chuốc lấy nỗi khổ không ít, như trường hợp ông Hội đồng trong tác phẩm Chút phận linh đinh, lúc đầu không chấp nhận mối tình tự do của Hiển Vinh - Thu Vân, quyết định từ con, nên phải chịu đựng những ngày tháng sống đau buồn. Mà buông thả với lối sống tự do là không thể chấp nhận được, hơn nữa lối sống đó cũng chưa mở ra cho người đời một viễn cảnh hoàn toàn tốt đẹp.

Page 128: Tieu Thuyet Nong Thon

Có thể thấy, Hồ Biểu Chánh còn lí tưởng hóa về cuộc đời. Tác phẩm của ông thường kết thúc có hậu. Điều này phần nào đã xoa dịu được nỗi đau của người đời, tạo thêm niềm lạc quan tin tưởng, tiếp thêm sức mạnh để con người vượt qua mọi chông gai thử thách của cuộc sống. Đây cũng là nét khác biệt của tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh so với tiểu thuyết miền Bắc cùng thời.

2.2 Hiện thực về giai cấp phong kiến thống trị đương thời:

Bước sang thế kỉ XX, thực dân dân Pháp hoàn tất công cuộc bình định ở Việt Nam, đặt bộ máy cai trị lên toàn cõi đất nước. Pháp tỏ ra khôn khéo, tiếp tục duy trì cơ cấu phong kiến trong vai trò bù nhìn. Hơn thế, những gì thuộc về phong kiến mà có lợi cho Pháp đều được tồn tại và phát triển trong sự trợ lực của người Pháp. Do đó, giai cấp phong kiến thống trị đương nhiên vững vàng trong ngôi vị vốn có của mình. Đa số những người thuộc giai cấp phong kiến đương thời đã trở thành lực lượng đối lập với nhân dân. Các nhà văn miền Bắc và Hồ Biểu Chánh chưa đạt được thành công như Phạm Duy Tốn, một tác giả truyện ngắn cùng thời, đã tạo nên một hoàn cảnh điển hình như trong “ Sống chết mặc bây” để làm nổi bật hình tượng nhân vật quan lại vô trách nhiệm, bàng quan trước nỗi khổ của dân nghèo. Tuy nhiên, Hồ Biểu Chánh và các nhà tiểu thuyết miền Bắc đều đưa vào tác phẩm những trường hợp tiêu biểu, phản ánh thực trạng về giai cấp thống trị. Đó là những quan huyện, quan phủ, ông phán, thầy thông, thầy kí, hương chức, hội tề, ... ở thành thị lẫn nông thôn. Ngòi bút của các tác giả không chút khoan nhượng đối với những kẻ gọi là “Phụ mẫu chi dân”, lại cậy quyền ỷ thế ức hiếp dân lành vô tội, chuyên làm những chuyện xấu xa, bỉ ổi. Quan Huyện trong “Kim Anh lệ sử” (Trọng Khiêm) là kẻ háo sắc, ham tiền, tham danh vọng đến vô liêm sĩ. Hắn vừa tích cực bòn rút của dân cho mau giàu, vừa tìm cách cầu cạnh quan trên để được thăng chức, sẵn sàng hiến vợ cho Công sứ Pháp để được rộng đường tiến thân. Vì ai mà gia đình Kim (Cậu bé nhà quê - Nguyễn Lân) lâm vào cảnh khánh kiệt, nỗi oan ức muốn được giải tỏa phải đánh đổi bằng cả một gia sản? Nếu các vị quan trong tác phẩm là người thanh liêm chánh trực thì đâu xảy ra chuyện đau lòng đến thế! Đặng Trần Phất còn nói đến loại quan bất tài, thất học, dùng tiền để mua phẩm hàm, rồi tự xưng là quan, học kiểu cách của quan và thích thú khi được mọi người gọi mình là quan. Nhân vật ông Hàn được xây dựng trong tác phẩm“Cuộc tang thương” nói đến loại người như thế. Thích làm quan nhưng ông Hàn chẳng làm gì có ích cho xã hội, mà chỉ chăm chút vào sự hưởng thụ cá nhân, sống hoan lạc, phụ rẫy vợ con một cách tàn nhẫn.

Hồ Biểu Chánh đặc biệt chú ý đến tầng lớp thống trị. Ông đã vạch trần những việc làm xấu xa của bọn quan lại và những kẻ có chức

Page 129: Tieu Thuyet Nong Thon

sắc trong xã hội bấy giờ. Cũng như các tác giả miền Bắc, Hồ Biểu Chánh nhận ra nhiều hiện tượng biến chất trong hàng ngũ giai cấp phong kiến thống trị. Ông viết về sự biến chất ấy bằng nỗi đau xót, bất bình của một người cùng giai cấp. Quan lại trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh có nhiều kẻ tham lam ích kỉ, độc ác và vô đạo đức. Những con người đó dễ dàng bị lóa mắt trước đồng tiền, không còn biết phân định phải quấy trắng đen. Vì thế mà nhà giàu gian ác có điều kiện để cấu kết với quan, mượn thế lực của quan hãm hại lương dân hay che đậy tội lỗi của mình. Bá hộ Cao (Ngọn cỏ gió đùa) cậy thế lực của quan Huyện để bắt bớ đày ải Lê Văn Đó; Hương hào Hội (Cha con nghĩa nặng ) đút lót tiền cho Chánh hương quản Sum để được che đậy tội lỗi; Tấn Thân thông đồng cùng quan Huyện để đưa Thủ Nghĩa vào vòng tù tội, chiếm đoạt tài sản của Trần Mừng. Là một nhà văn rất xem trọng đạo đức, Hồ Biểu Chánh không bỏ qua những hành vi đồi bại của quan lại dâm dục. Quan Huyện trong “Ngọn cỏ gió đùa” đã không làm tròn bổn phận của kẻ “cầm cân nẩy mực” mà chỉ lo tìm cách dụ dỗ con gái nhà lành, mưu toan chiếm đoạt Lý Ánh Nguyệt, giữa lúc nàng đang rơi vào tình cảnh bế tắc. “Ngọn cỏ gió đùa” được viết bằng ngôn ngữ kể chuyện, thế mà trước mắt người đọc là một màn kịch khá gay cấn. Lý Ánh Nguyệt thì quyết giữ gìn tiết hạnh. Trong khi đó, thói dâm dục đã biến lão quan Huyện thành một tên ác quỷ, không muốn buông tha cho cô gái trẻ trung, trong trắng như nàng: “Ta thấy nàng nghèo hèn mà có sắc ta thương, nên ta muốn làm phước cứu nàng. Vậy nàng ở đây hầu ta. Nàng khỏi trả nợ, khỏi ở đợ cực khổ, biết hôn? Đi xê lại đây ta biểu một chút...” . Đối với quan lại thiếu đạo đức, mất nhân cách, đến cuối tác phẩm, tác giả thường để cho những con người ấy phải chịu sự trừng phạt. Nhưng đó là sự trừng phạt theo quan niệm nhân quả, mà nhà văn rất tin tưởng, chứ không phải là công bằng, công lí có được trong xã hội đương thời.

Phơi bày cái xấu, tố cáo cái ác, hay phê phán cái vô đạo đức ở giai cấp thống trị, đó là việc làm đã đạt nhiều thành công ở lớp nhà nho đi trước như Nguyễn Du, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Khuyến, Tú Xương... Đến giai đoạn này, sử dụng hình thức văn xuôi tự sự, các tiểu thuyết gia hiện đại có nhiều thuận lợi hơn trong việc thể hiện vấn đề trên. Hồ Biểu Chánh và các nhà văn miền Bắc đều chứng minh chính sự suy thoái của giai cấp thống trị đã gây ảnh hưởng xấu cho cuộc sống của nhân dân. Các nhà văn đã gặp nhau ở hướng nhìn nhưng lại khác nhau trong cách đánh giá những hiện tượng xảy ra trong cuộc sống. Các tác giả miền Bắc lên án gay gắt cái xấu ở giai cấp thống trị đương thời. Cảm hứng sáng tác của họ được khơi gợi từ sự bất bình và cả bất mãn. Trong cái nhìn của các nhà văn miền Bắc, thực trạng về giai cấp thống trị đương thời là vô phương cứu vãn. Xã hội đó không dành chỗ đứng cho những người chánh trực, công minh. Một vị quan thanh liêm như quan Giáo thụ trong “Cành hoa điểm tuyết” đã chết vì đau khổ và uất ức. Bi kịch của ông do chính sự ngay

Page 130: Tieu Thuyet Nong Thon

thẳng và trong sạch của ông tạo ra. Không thể hiện niềm hi vọng vào sự thay đổi của bộ phận này trong hoàn cảnh hiện tại, đồng thời các nhà văn miền Bắc cũng chưa đặt ra vấn đề cụ thể là phải làm gì đối với bọn sâu dân mọt nước. Ngòi bút phê phán của nhà văn miền Bắc sắc nhọn không kém ngòi bút Vũ Trọng Phụng hay Nam Cao ở giai đoạn sau. Tuy nhiên, họ chỉ dừng lại ở việc thể hiện thái độ bất bình, bất mãn hay tạo nên tiếng nói tố cáo mà thôi.

Tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh thể hiện vấn đề khác hẳn. Với Hồ Biểu Chánh, quan lại nói riêng, giai cấp thống trị nói chung, kể cả quan Pháp, đều có kẻ tốt người xấu. Cho nên tác giả không chỉ phê phán quan lại xấu, mà còn ca ngợi những ông quan tốt. Đó là quan Án sát An Giang, quan Tổng đốc (Chúa tàu Kim Quy); quan Án ( Ngọn cỏ gió đùa) thầy kiện Tô Lê (Con nhà nghèo)... Hồ Biểu Chánh là nhà văn phản ánh hiện thực một cách trung thực. Ngòi bút của ông không hề bị bẻ cong khi viết về những gì đang diễn ra trong xã hội. Tuy nhiên, ở điểm này, cho thấy thế sự được ông cảm nhận còn chủ quan. Cái xấu ở giai cấp thống trị đương thời được ông quan niệm như những hiện tượng tiêu cực, mang tính đơn lẻ, chưa làm nên bản chất của giai cấp. Nó thể hiện phần nào sự bại hoại về đạo đức của người đời. Do đó, ông mạnh dạn phê phán những quan lại bất nhân, thất nghĩa. Đồng thời mong muốn dùng đạo đức để cảm hóa, dẫn dắt những kẻ sâu dân mọt nước trở lại con đường chính nghĩa. Ông cũng sẵn sàng tha thứ cho những ông quan bất tài, vô trách nhiệm, độc ác và rất mực tham lam nếu họ tỏ ra biết ăn năn hối lỗi. Vì ai mà một anh nông dân hiền lành, chất phác như Thủ Nghĩa (Chúa tàu Kim Quy) phải vào tù, gia đình tan nát? Nếu không có sự cấu kết của quan huyện với gã nhà giàu Tấn Thân thì làm sao có nên cớ sự ấy! Thế mà cuối cùng, Thủ Nghĩa đã dễ dàng xóa thù quên hận khi thấy hắn tỏ ra ăn năn sợ sệt. Mọi tội lỗi do hắn gây ra chỉ bị trừng phạt bằng một hình thức nhẹ nhàng: cách chức, cho về nghỉ hưu.

Chúng ta có thể nhận thấy dường như Hồ Biểu Chánh chấp nhận cơ cấu xã hội đương thời. Ông không nghĩ đến việc thay đổi xã hội, chỉ ra sức chấn chỉnh. Ông tin vào sự trợ lực của chính phủ bảo hộ. Rõ ràng ông chưa nhận thấy xã hội ấy đang mục ruỗng từ gốc rễ. Do đó, ông không nói đến tâm trạng xót xa tủi nhục như tác giả của bài thơ “Á tế Á ca” ra đời trong giai đoạn này:

“ Non sông thẹn với nước nhà

Vua là tượng gỗ dân là thân trâu”

để khao khát làm cách mạng, thay đổi xã hội như các nhà ái quốc duy tân cùng thời.

Làm quan đến chức Đốc phủ sứ, Hồ Biểu Chánh vẫn giữ được lối sống thanh cao, luôn là người liêm chính. Cuộc đời của ông lại không

Page 131: Tieu Thuyet Nong Thon

chút lận đận trắc trở. Hồ Biểu Chánh nhìn đời bằng lăng kính màu hồng cho nên dễ dàng có những ảo tưởng về sự cải tà quy chánh của người đời, nhất là tầng lớp thống trị đương thời.

Thế sự được đề cập trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh có nội dung phong phú, bao quát hiện thực xã hội hơn tiểu thuyết miền Bắc. Viết về giai cấp thống trị của xã hội hiện tại, Hồ Biểu Chánh không chỉ nói đến những kẻ thống trị nhân dân bằng quyền lực, mà còn nói đến lớp người thống trị dân nghèo bằng thế mạnh của tiền của. Đó chính là địa chủ. Ông đã xây dựng thành công hình tượng điển hình về địa chủ xấu ở nông thôn Nam bộ. Tuy nhiên, viết về thành phần này, tác giả cũng thể hiện cách nhìn như đối với quan lại. Ông đặt nhiều hi vọng ở địa chủ tốt. Chính những người này sẽ làm cho bộ mặt nông thôn thay đổi, cuộc sống của nông dân được ấm no. Có lẽ Hồ Biểu Chánh cùng quan điểm với phong trào Ánh sáng được phổ biến vào giai đoạn 1930 –1945.

2.3 Đời sống kinh tế nghèo nàn lạc hậu:

Tiểu thuyết miền Bắc ít chú trọng đến hiện thực đời sống kinh tế. Các tác giả có phác họa đôi nét về sự phồn vinh giả tạo ở chốn thị thành, thông qua một vài chi tiết tiêu biểu. Phố phường Hà Nội hiện lên với vẻ lộng lẫy “nhà cửa nguy nga, lâu đài rực rỡ, phố xá sạch sẽ rộng rãi, người người ăn mặc màu mỡ...”, thế nhưng “giá có trông thấy người kéo xe cao su cùng xe sắt một ngày một đông, giá có ra các chốn cửa ô xe điện thấy lũ ăn mày trẻ với già, mù với tàn tật, giá có trông thấy những hạng giật khăn ở các ngõ hẽm tối tăm mới biết rằng Hà Nội chẳng qua là cái màu rực rỡ che phủ chung quanh cái giường người ốm một cách khôi hài trong cái bi kịch sinh nhai của quốc dân mà thôi.“ (Cuộc tang thương). Nhìn sự việc ở tầm nhìn vĩ mô cho nên các nhà văn không tái hiện được bức tranh thế sự ở mức vi mô.

Riêng ở đề tài này, Hồ Biểu Chánh đã thể hiện một cách cụ thể, chân thật và đa dạng đời sống kinh tế ở Nam bộ thời bấy giờ. Nỗi bức xúc, cũng là niềm xót xa của nhà văn khởi nguồn từ một thực tế khó có thể tin được nhưng đó đã là sự thật: Chính tại xứ sở trù phú, có thể“làm chơi ăn thiệt”, nguồn sống dồi dào ”dưới sông có cá, trên bờ có lúa” lại từng diễn ra nạn đói thảm khốc, có gia đình lâm vào cảnh:”cả nhà phải luộc rau cỏ mà ăn đỡ, chớ không có cháo mà ăn” (Ngọn cỏ gió đùa). Trái tim nhân hậu, cùng với nỗi lo đời đã tạo nên trăn trở cho nhà văn khi nghĩ đến cuộc sống hiện tại của bao người. Cảm từ vấn đề trên, muốn viết về nó, lại có được cái nhìn tinh tế, Hồ Biểu Chánh đã tái hiện chân thực bức tranh thế sự. Ông đã chỉ ra mâu thuẫn giữa người giàu và người nghèo, nêu lên tình trạng lạc hậu của

Page 132: Tieu Thuyet Nong Thon

nền kinh tế hiện thời, nói rõ những bất công mà người nghèo gánh chịu.

Hồ Biểu Chánh đã dành nhiều trang viết sắc sảo để nói về cảnh khổ của người nghèo. Thể hiện nỗi cay đắng và khổ ải của những kiếp người phải vật lộn với sự sống. Họ bị đẩy vào cái thế: con người như muốn trở lại bản năng sinh vật, níu lấy sự sống bằng bất cứ giá nào. Hành động bưng trộm nồi cháo heo của nhà địa chủ, giựt cơm của hai vợ chồng người ăn mày, Lê Văn Đó (Ngọn cỏ gió đùa) tỏ ra liều lĩnh. Anh ta buộc phải liều để sinh tồn. Thật xót xa cho một kiếp con người! Với trường hợp của anh, đúng là “bần cùng sinh đạo tặc”. Điều chua chát ở đây không chỉ là phải làm đạo tặc, mà còn là làm đạo tặc để được cái gì? Thân phận con người bỗng trở nên thấp hèn, rẻ rúng tột cùng! Đánh đổi cả danh dự, tính mạng để có được thức ăn mà nhà giàu dành cho súc vật. Thế nhưng, nào có được!

Không dừng lại ở nội dung trên, Hồ Biểu Chánh còn đi sâu vào nhiều vấn đề khác của nền kinh tế đương thời. Đó là tình trạng lạc hậu trong kĩ thuật sản xuất nông nghiệp, đất đai tập trung vào tay địa chủ, người lao động không chỉ sống nghèo khổ mà cuộc đời còn chìm đắm trong sự dốt nát. Họ xa lạ với mọi phương tiện hiện đại, sản xuất theo tập quán, lệ thuộc vào thời tiết... Nông nghiệp không thể phát triển, kể cả thương nghiệp cũng có nhiều điều đáng buồn. Người Việt Nam phải chịu sức cạnh tranh dữ dội của tư sản nước ngoài, khó có thể đứng vững trên thị trường, nói chi đến việc làm chủ nền kinh tế của mình. Qua lời đối thoại giữa Trần Công Nghĩa và Vĩnh Thái (Khóc thầm), Hồ Biểu Chánh đã gợi lên đôi điều về thực trạng nói trên.

Nam bộ là vùng đất màu mỡ, thiên nhiên ưu đãi con người. Nhưng lộc trời không phải ai cũng hưởng được. Hồ Biểu Chánh còn nói đến sự chênh lệch mức sống giữa người giàu và người nghèo, giữa thành thị và nông thôn. Người giàu ngồi mát ăn bát vàng, chẳng phải làm lụng gì cả hàng năm vẫn thu được mấy ngàn giạ lúa như Cai tổng Luông (Thầy thông ngôn); không cần lao động vất vả lại luôn được sống sung sướng. Trong khi đó, người nghèo phải làm “cháy da phỏng trán, lo quên ngủ quên ăn “ (Cha con nghĩa nặng ) mà vẫn khi đói khi no. Gặp năm hạn hán, mất mùa thì rơi vào túng quẫn như Lê Văn Đó (Ngọn cỏ gió đùa). Nông thôn Nam bộ qua tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh hãy còn hoang sơ và tiêu điều. Cuộc sống rất mong manh. Cuộc sống luôn bị đe dọa bởi cái đói nghèo và chìm sâu trong sự lạc hậu. Có cái gì đó như đã làm nhói lòng tác giả. Cho nên đã có những đoạn viết đầy xót xa về những con người do sống quá nghèo khổ mà trở thành quê mùa đến đáng thương:”...Ba người đi trong đường Quảng Tống Cái, thình lình thấy một cái xe hơi đậu dựa lề, trên có một người trai đương ngồi hút thuốc. Ba người không biết cái xe gì mà hình dáng coi kỳ cục quá nên xúm lại đứng chung quanh mà coi, rồi cãi lẫy với nhau, người thì nói chừng muốn chạy người ta sẽ bắt kế ngựa vô, kẻ lại nói

Page 133: Tieu Thuyet Nong Thon

có lẽ người ta chạy bằng máy, chớ có chỗ nào mà bắt kế ngựa cho được”(Con nhà nghèo). Khi ấy, ở thành thị bao người được tận hưởng mọi đặc ân từ cuộc sống hiện đại. Họ sống trong biệt thự sang trọng, có người hầu kẻ hạ; đuợc ăn những bữa thịnh soạn ở nhà hàng; được hưởng thụ mọi thú vui chơi giải trí; bước ra đường là lên xe hơi (Kẻ làm người chịu, Tiền bạc bạc tiền, Một chữ tình). Có thế, cho nên một người xuất thân từ bần nông như Ba Cam, ra thành thị kiếm sống đã được thay đổi: “Mà coi bộ nó khá lắm. Có đi giầy, bận đồ Tây, coi tử tế lắm.”(Con nhà nghèo).

Ngôn ngữ là yếu tố quan trọng làm nên tác phẩm văn chương. Tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh được hình thành từ ngôn ngữ giản dị, bình dân, đậm sắc thái Nam bộ. Đặc biệt còn có sự xuất hiện của lớp từ ngoại lai, đã góp phần làm nổi bật hình ảnh của xã hội buổi giao thời với đủ hạng người, đủ các lối sống, mức sống. Một xã hội có nền kinh tế thay đổi lớn, hàng hóa trở nên phong phú hơn. Nhiều vật dụng tiện nghi, hiện đại xuất hiện. Con người bắt đầu được thừa hưởng các phương tiện mới trong cuộc sống. Có thể nhận và gửi tiền cho nhau mà không cần phải gặp nhau; được thưởng thức những món ăn mới lạ mà không cần phải tốn nhiều thời gian chế biến, có thể mang đi đường thuận lợi. Những đổi thay đó có mặt tích cực nhất định nhưng vẫn không che dấu được một sự thật xót xa. Bởi đó là sự phát triển nhằm phục vụ cho kế hoạch xâm lược lâu dài của Pháp. Nó không phải là sự phát triển nội tại của nền kinh tế nước nhà, để đem lại hạnh phúc cho người Việt Nam. Thông qua lớp từ ngoại lai chỉ đồ vật, thực phẩm hay các phương tiện mới như: canô, xalông, qua li, giấy săng, mù soa, ram bon, patê, xúc xích, manda,...tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh thể hiện được những đổi thay có nhiều tính chất phức tạp của nền kinh tế nói trên.

Nhìn chung, thế sự được nói đến trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh và các nhà văn miền Bắc thật bề bộn, phức tạp. Phản ánh thế sự, Hồ Biểu Chánh cũng giống các tác giả miền Bắc, chưa đề cập đến những vấn đề thuộc lĩnh vực chính trị. Do đó, bức tranh xã hội còn mang tính phiến diện. Các nhà văn đều quan sát hiện thực bằng lăng kính đạo đức. Họ quan tâm đến những gì làm tổn hại đạo đức cổ truyền của dân tộc. Nhất là Hồ Biểu Chánh, không bỏ qua một sự kiện nào trái với đạo lí: Quan lại nhũng nhiễu ức hiếp dân lành; những kẻ giàu có tham lam bạc ác, bóc lột người nghèo; con người bị hư hỏng sa đọa vì chạy theo lối sống mới; bị lôi kéo bởi thế lực đồng tiền...Trong khi đó đầu thế kỉ XX, vấn đề quan trọng nhất đặt ra cho đất nước là vấn đề sống còn của dân tộc trước giặc ngoại xâm. Văn học yêu nước giai đoạn này đã tập trung thể hiện nội dung trên.

Tiểu thuyết miền Bắc cũng như tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh chưa hề đá động đến tội ác của thực dân Pháp. Trong khi bấy giờ Pháp đang thực hiện chính sách khai thác thuộc địa, mở rộng các hình thức bóc lột, đặt ra sưu cao thuế nặng... Chính những việc làm ấy đã đẩy

Page 134: Tieu Thuyet Nong Thon

người dân đến cảnh bần cùng khốn khổ. Thế nhưng, nếu không giải thích như Đặng Trần Phất: đau khổ là chuyện tất nhiên của cuộc đời, thì lại có cách lí giải như Hồ Biểu Chánh: bất hạnh của con người sinh ra từ dốt nát, đói nghèo. Cái dốt nát, đói nghèo ấy không được giải thích từ nguyên nhân nước mất, dân làm nô lệ, mà tất cả do lòng người bất minh, xã hội bất đạo. Nhân vật Lý Ánh Nguyệt trong tác phẩm Ngọn cỏ gió đùa từng than thở và oán trách: “chỉ có một cái nghèo nó làm cho nàng đê tiện cực khổ, chớ chẳng phải điều chi khác”, “rồi nàng phiền ông trời sao nỡ khiến nghèo hèn cho nàng làm chi”, nàng còn cho rằng ”tại lòng người nham hiểm, độc ác, nên mới có việc uất ức”. Các nhân vật đau khổ trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh có cùng suy nghĩ như thế, không riêng gì Lý Ánh Nguyệt, mà cả Lê Văn Đó (Ngọn cỏ gió đùa), Cai tuần Bưởi (Con nhà nghèo) cũng vậy.

Những hạn chế nêu trên cũng là tình trạng phổ biến của văn học hợp pháp giai đoạn này. Khi mà ánh sáng của tư tưởng tiến bộ chưa soi rọi đến, thì đối với các nhà văn không riêng gì Hồ Biểu Chánh, Đặng Trần Phất, Trọng Khiêm... mà cả Ngô Tất Tố, Nam Cao về sau vẫn có cái nhìn chưa trọn vẹn về con người, cuộc sống đương thời. Nông thôn trong các tác phẩm của Ngô Tất Tố là một màn đêm đen kịt. Cuộc sống của làng quê trong sáng tác Nam Cao chỉ có bi kịch và bế tắc.

3. Kết luận:

Tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 30 năm đầu thế kỷ XX, trong đó có tiểu thuyết miền Bắc và tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh, được hình thành trên cái nền truyền thống của văn học trung đại, có tác động mạnh mẽ của văn học phương Tây và cùng bị chi phối bởi hoàn cảnh lịch sử xã hội đương thời nhưng không cùng làm nên đặc điểm chung cho thể loại. Đã có sự “gặp gỡ”, đồng thời cũng có nhiều nét “khác biệt”giữa tiểu thuyết miền Bắc và tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh. Sự “gặp gỡ” là điều tất yếu xảy ra ở các nhà văn đã chọn giải pháp tiếp nhận cái mới từ phương Tây nhưng không chối bỏ những gì thuộc về truyền thống văn học đã tồn tại hơn 10 thế kỷ qua. Các tiểu thuyết gia miền Bắc và Hồ Biểu Chánh đều là những người theo tân học nhưng không có chủ trương công kích Nho học quyết liệt. Họ vẫn còn vương vấn với đạo đức phong kiến. Họ đều đang có những chuyển biến trong quan niệm sáng tác. Cùng đi tìm cảm hứng ở cuộc sống và con người hiện đại, cả Hồ Biểu Chánh và các nhà văn miền Bắc đều nhạy cảm, dễ rung động trước những biến đổi của thời cuộc. Cho nên thế sự trở thành đề tài được quan tâm chung, hơn nữa còn là sự say mê thể hiện trong sáng tác của họ.

Những điểm “khác biệt” như đã trình bày, xuất phát từ nhiều nguyên nhân, có khách quan lẫn chủ quan. Hoàn cảnh lịch sử chính

Page 135: Tieu Thuyet Nong Thon

trị, truyền thống văn hóa, điều kiện tự nhiên, địa lí... tất cả đều có sự chi phối nhất định đến sáng tác của các nhà văn. Cũng không thể bỏ qua yếu tố nhận thức và quan niệm của nhà văn về con người, cuộc sống. Cuộc đời đầy suông sẻ, chưa chút lận đận, lại làm quan đến chức Đốc phủ sứ chắc chắn chi phối cách nhìn của nhà văn Hồ Biểu Chánh, đồng thời cũng ảnh hưởng đến việc lí giải mọi vấn đề thế sự. Với số lượng 64 tác phẩm, riêng giai đoạn trước 1930 có 17 tác phẩm, Hồ Biểu Chánh có nhiều điều kiện để bao quát chuyện đời, say sưa lí giải và bàn luận giải pháp cho nhân tình thế sự. Mặc dù còn có hạn chế nhưng vẫn thấy rõ, cảm hứng thế sự ở tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh bộc lộ rõ nét hơn so với tiểu thuyết miền Bắc. Tiểu thuyết ra đời ở miền Bắc, có đề cập đến thế sự, ở giai đoạn này, hãy còn thưa thớt về số lượng. Vì thế chưa đủ sức bao quát mọi vấn đề của cuộc sống và con người. Có nhà văn như Nguyễn Tử Siêu vẫn tiếp tục đi tìm cảm hứng từ chuyện xưa, tích cũ. Có thể khẳng định, ở 30 năm đầu thế kỷ XX, Hồ Biểu Chánh là người đi tiên phong trong việc hiện đại hóa tiểu thuyết Việt Nam, theo con đường của chủ nghĩa hiện thực.-------------------Tài liệu tham khảo:

(1) Thanh Lãng: Bảng lược đồ văn học Việt Nam, Trình Bày xuất bản, Sài Gòn, 1967, tr 441.

(2) Dẫn theo Mã Giang Lân: Quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam 1900-1945 (2000), Văn hóa Thông tin xuất bản, Hà Nội, 2000, tr 303.

(3) Nguyễn Thị Thanh Xuân: Phê bình văn học Việt Nam ½ đầu thế kỷ XX, ĐH Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản, 2004, tr. 43.

(4) (5) Dẫn theo Vương Trí Nhàn: Khảo về tiểu thuyết, Hội Nhà văn xuất bản, Hà Nội, 1996, tr. 62; 39.

-----------

Giáo sư Phong Lê

“Thần thánh và bươm bướm”

mấp mé một cái gì rất lớn*

Nghe anh Thỉnh anh Sử và anh Trường phát biểu thì có lẽ quyển sách này của Đỗ Minh Tuấn phải có giải cao hơn đấy. Bây giờ tôi nói lại tất cả với anh Thỉnh và các anh Ban chung khảo. Tôi tham gia hai lần chấm chứ không được ba lần, thì cả hai lần tôi đều có cảm giác là trong xét thưởng vẫn có cái gì xộc xệch.

Đây là tâm trạng của một người tham gia. Tức là chúng ta chưa đi đến cùng những lý lẽ để tranh luận, tranh biện, mà vẫn nhân nhượng nhau.

Page 136: Tieu Thuyet Nong Thon

Và luôn luôn có gì bày đặt. Xin lỗi sáu vị trong Ban chung khảo ở đây. Chúng ta vẫn dựa vào nhau, thân thiện nhau, bày đặt với nhau để đạt một cái chuẩn chung, mà cái chuẩn chung đó không phải phù hợp với từng người một.

Riêng tôi, nếu bây giờ cho tôi xếp lại giải này thì tôi xếp khác, chứ không xếp thế này. Tôi xin nói thật như vậy. Bây giờ nói thì chạm tự ái.Nhưng từ giải Nhất đến giải Ba nếu tôi xếp thì tôi xếp khác. Tức là cả hai lần chấm ấy chúng ta đã thỏa hiệp với nhau để đạt cái chuẩn chung mà chưa đi tới kỳ cùng cái lý của mỗi người đưa ra. Đó là điều tôi nói để thấy rằng tôi cảm nhận và phát biểu về Đỗ Minh Tuấn hoàn toàn rất khác mọi người. Nhưng thậm chí chưa lần nào chúng ta tham gia một cuộc tranh luận về chuyện này. Trong khi đó tôi thức nhận rằng trong cả hai cuộc thi thì đây là một quyển sách hoàn toàn khác. Khí hậu khác, diện mạo nhân vật khác, cách tiếp cận khác, giọng điệu khác. Phải đến cuộc hai mới có Đỗ Minh Tuấn, cuộc một cổ điển vô cùng. Tất cả những cái giải chúng ta trao đều là cổ điển hết sức. Cổ điển trong cách viết, cổ điển tác giả và cổ điển cả người đọc. Chiều theo đa số người đọc, chứ còn một cách tiếp cận khác chưa chắc đã có số đông người đọc đâu. Tức là chúng ta đã chiều theo số đông một cách “bầy đàn”. Tôi xin phép đọc cái nhận xét của tôi (về Thần thánh và Bươm bướm) mà tôi đã nộp cho Ban Chung khảo, nguyên vẹn thế này:

“Một biếm họa, một giả thuyết về người nông dân hiện đại trên hai phương diện thần thánh và bươm bướm. Thần thánh: sự mê tín các quyền lực siêu nhiên gồm đủ các loại thần: cây đa, cây đề, cây bưởi. Bươm bướm: Lòng tin rất mực ngây thơ vè các dự án, các tài trợ các khuyến dụ của người nước ngoài với những khoản thu nhập hàng ngàn đô la tính từ con bươm bướm và con bọ hung. Cả hai phương diện đều là biểu hiện của sự dốt nát và lòng tin mê muội. Không biết một giả thuyết như vậy có đúng là gương mặt đích thực của người nông dân Việt Nam hôm nay hay không. Hay vì sự nghèo khổ lưu niên, sự bỏ làng ra thành thị, sự mất đất, sự thay đổi cảnh ngộ trong quá trình đô thị hóa. Đương nhiên một hình ảnh nông dân và nông thôn như trên là hoàn toàn mới so với nửa thế kỷ văn học trước đây.

Trước đây, trong xã hội cũ (kiểu như Ngô Tất Tố), trong chiến tranh (như kiểu Bùi Hiển hay Nguyễn Văn Bổng với “Con trâu”), trong cải cách ruộng đất (như là “Bếp đỏ lửa”), trong sửa sai (như “Sắp cưới” của Vũ Bão), trong Hợp tác hóa (như là của ai đó trong số đông đảo các tác giả kiểu như Nguyễn Thị Ngọc Tú, rồi Vũ Tứ), trong gia tộc dòng họ (như kiểu anh Nguyễn Khắc Trường)…Tất cả đều có chung một cách tiếp cận nông thôn như thế.Một cách nhìn kiểu Lỗ Tấn đối với AQ không biết đã có thể thích hợp với nông dân ở ta hiện nay không?”

Đánh giá của tôi như thế đấy!Đối với tôi đó là điều tôi rất ngưỡng mộ. Đây là những ghi chép của tôi, không biết có đúng với suy nghĩ của anh Tuấn không. Nhưng tôi đọc và cảm nhận như vậy. Hôm qua sau khi ở bệnh viện ra tôi có đọc lại để khẳng định lại thì tôi thấy vẫn giữ nguyên đánh giá của mình. Nếu đúng được với ý tác giả thì là điều tôi rất mừng.

Page 137: Tieu Thuyet Nong Thon

Sau khi viết cái này tôi nghĩ đến nông dân trước năm 1945, với hai giả thiết lớn tôi gọi là vĩ đại. Một là, giả thiết về người nông dân nghèo khổ như chị Dậu khái quát về số đông của nông dân trước 1945. Sau năm 1945, cái bần cùng hóa ấy giảm dần đi nhưng chị Dậu vẫn sống trong sự rung động, trong lòng thương con người sâu sắc của ông Ngô Tất Tố. Sau Ngô Tất Tố lại xuất hiện một giả thuyết của Nam Cao là Chí Phèo.Chí Phèo trước cách mạng không nhiều đâu, ít thôi, chỉ một số nhỏ nông dân bị lưu manh hóa. Nếu so sánh ba loại người là Dậu, Pha, Phèo thì loại Phèo là thiểu số trước năm 1945. Vậy mà nó sống đến thế, sau cách mạng loại hình nhân cách Chí Phèo lan rộng, xuất hiện sừng sững khắp nơi lại còn đông đảo hơn chị Dậu. Vì đằng sau Chí Phèo có cái tha hóa con người. Không phải chỉ Chí Phèo mới tha hóa, mọi tầng lớp xã hội loại người khác cũng tha hóa. Nhưng trong nghệ thuật thuật có cái trớ trêu như vậy. Nó không phải đi theo cái phổ biến đâu, mà là sự mở rộng, nhân rộng cái bản tính khác biệt mang tính quy luật của con người, nâng lên thành nghệ thuật. Đằng sau nông dân là vấn đề bần cùng hóa và tha hóa.

Từ kinh nghiệm đó tôi mới hiểu thế này, mọi phát hiện của ta về nông dân liên quan đến hai đề tài quan trọng nhất của dân tộc mình là chiến tranh và nông thôn. Nhưng cái phát hiện chiến tranh đeo đai chúng ta mãi. Còn đề tài phát hiện nông dân bao trùm hơn thì vẫn chưa vượt được cái ngưỡng của nó. Ở đây có hai vấn đề: Một là vấn đề nông dân với đất, liên quan đến việc anh nông giữ đất, có đất rồi mất đất. Hai là vấn đề nông dân với nền tảng tâm linh, đạo đức truyền thống, liên quan đến tầng sâu tâm lý của một dân tộc nông dân. Nhưng văn học ta mới chỉ khai thác sâu vào vấn đề giữ đất giữ làng, giữ tổ quốc thôi! Còn vấn đề nông dân mất đất với tấn bi kịch con người mất đất đai, vấn đề tan rã nền tảng đạo lý tâm linh văn hóa dân tộc hầu như chưa khai thác.

Tính dân tộc có hai phương diện, ta mới chỉ khai thác sâu cái mặt tích cực của nó, khai thác mãi rồi cũng cạn thôi. Trong kháng chiến “Anh bộ đội tỳ tay lên mũi súng” vẫn là anh nông dân mặc áo lính đánh giặc giữ làng, giữ đất chung như trong tác phẩm của Bùi Hiển, Phùng Hữu Lộc…Còn cái vấn đề đất riêng của nông dân thì hầu như chưa khai thác. Sau hòa bình thì anh nông dân nông dân có đất riêng trong cải cách ruộng đất, rồi dần dần mất đất riêng trong quá trình trả lại đất trong sửa sai, trong hợp tác hóa, rồi lại được trả lại đất trong khoán hộ. Và đến bây giờ thì vấn đề nông dân với đất lên đến cực điểm nhất của con người Việt Nam, biểu hiện ở tình trạng nông thôn hóa thành thị và thành thị hóa nông thôn. Nghĩa là quá trình nông dân mất đất kéo ra thành thị la liệt ngoài đường phố, và quá trình nông dân bán đất để xây biệt thự, quán karaoke, mua xe máy rồi anh trắng tay. Hai quá trình đó nhếch nhác vô cùng, thảm hại vô cùng. Hai cái đó là lịch sử. Người ta đã đi cao tốc lên hiện đại mà mình vẫn mới chấp chới đi con đường nhòe nhoẹt như vậy. Vì thế đọc được những giọng điệu đó trong Đỗ Minh Tuấn tôi rất mừng. Cuốn sách đặt ra rất nhiều điều. Rất đương đại. Hiện đại vô cùng. Trẻ con mà nói ngôn ngữ bây giờ. Đám trẻ trong sách có hai thế hệ, thế hệ sau cực kỳ hiện đại. Cái anh đảng viên nói giọng nhếch nhác nửa mùa thôi, nhưng thằng Giác và những thằng sau chúng nó rất hay. Một giọng điệu như thế thích hợp. Một vấn đề như thế bây giờ thực sự mới được đặt ra kinh khủng nhất. Và bi kịch xã hội cũng nảy

Page 138: Tieu Thuyet Nong Thon

ra. Con người với đất đai, con người với tầng sâu tâm lý, đồng nghĩa nông dân là dân tộc, và dân tộc nông dân đi vào hiện đại hóa bằng con đường nào, theo cách nào. Đó là những vấn đề rất lớn. Cuốn sách đã đặt ra nhiều điều rất lạ.

Tôi rất thán phục nhà thơ Đỗ Minh Tuấn, nhà phê bình Đỗ Minh Tuấn, “vĩ đại” nhiều phương diện rồi, giờ lại thử thách về phương diện này. Tôi thấy tất cả những ý mà Chủ tịch Hội đồng văn xuôi đã phân tích về cuốn sách này là rất có nghề nghiệp. Nhưng quyển của Đỗ Minh Tuấn, tôi muốn đặt AQ bên cạnh, như là cách nhìn khác về người nông dân Trung Hoa, như là “Người Trung Quốc xấu xí” của Bá Dương. Tôi so sánh hơi khập khiễng, nhưng chúng ta phải có cách viết của thời bây giờ, phải phá cách đi, không cổ điển như trước kia. Cuộc thi thứ ba phải có những cách nhìn khác chứ không thể chỉ như giải vừa rồi đâu. Tôi cứ nghĩ cuốn sách của Tuấn mấp mé một cái gì rất lớn. Rất hay về chủ đề, rất hay về cách tiếp cận, rất hay về giọng điệu, rất hay về những cái mới mẻ trong biển cả các cuốn sách viết rất giống nhau. Mấp mé một cái rất lớn nhưng vẫn thiếu một chút gì đó để có được một thắng lợi tinh thần của AQ, thậm chí để có một hình hài của Đông ky sốt cuả Xécvantec, một Gacgăngchuya vàPăngtagruyen của Rabel. Những cuốn sách khổng lồ, khác hẳn đi, tạo nên một thời kỳ Phục hưng. Tóm lại sách của anh là một cuốn sách rất đáng đọc, rất ấn tượng. Nhưng vẫn còn thiếu một cái gì đó để khởi động một mùa viết mới khác hơn.

Xecvantec viết Đôngkysot năm 62 tuổi, anh năm nay mới 59 tuổi, còn thời gian rất dài để đi tiếp. Thời đại mới đòi hỏi một sự khởi động bằng tiếng cười. Tôi hy vọng những cuộc thi tới đây phải có những tác phẩm viết hoàn toàn khác. Tôi tin tưởng sau cái này anh sẽ đào sâu vào dân tộc nông dân của ta, đặt vấn đề lớn của thời đại, khắc phục những cái gì đó còn thiếu làm tiếng cười chưa sâu sắc, học cái cười sâu sắc của Lỗ Tấn trong AQ, trong “Nhật ký người điên”, học cái cười của Xecvantec, của Rabole. Thời đại Phục Hưng khởi động bằng tiếng cười, chứ không phải bằng sầu bi, đời thường đâu. Một tiếng cười bắt đầu một thời đại mới. Và người nông dân với đất, đó là vấn đề lớn của thế kỷ XX.

___________

(*) Bài phát biểu trong Hội thảo về tiểu thuyết “Thần thánh và bươm bướm” của nhà văn Đỗ Minh Tuấn ngày 25-11-2011.

Theo VHNA

nguồn: nhavantphcm.com.vn

Tiểu thuyết sẽ là xu hướng mới?

 

 

Page 139: Tieu Thuyet Nong Thon

Với sự xuất hiện của hàng loạt tác phẩm mới, tác giả mới, cùng những trào lưu văn học mới hình thành; có thể nói đời sống văn học trẻ hiện nay đang hứa hẹn có những sự bứt phá.Tuy nhiên họ có thực sự đáp ứng được kỳ vọng của những người cầm bút đi trước hay không?Tại sao chúng ta ngày càng thiếu vắng những tác giả trưởng thành từ các công trường xí nghiệp? Xu hướng sắp tới của văn học trẻ là gì?...

 Phong Điệp đã có cuộc trò chuyện với nhà văn Đỗ Bích Thuý và nhà văn Nguyễn Đình Tú về các vấn đề thời sự của văn học trẻ.

 

Khi các nhà văn trưởng thành trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đã cơ bản hoàn thành xong sứ mệnh văn học của mình thì cũng là lúc họ chờ đợi ở thế hệ cầm bút kế tiếp. Theo các anh/chị, liệu đây có phải là một gánh nặng cho những người đi sau?

 

Nguyễn Đình Tú:Tôi nghĩ rằng văn học thời nào cũng có những câu hỏi lớn, và thời nào cũng sẽ có câu trả lời đích đáng.

Đỗ Bích Thuý:Ai có việc của người nấy, tôi cho rằng như vậy. Nếu cứ nghĩ rằng mình đang phải gánh một gánh quá nặng thì mình sẽ kiệt sức, chả còn tâm trí đâu mà sáng tạo nữa. Văn chương đến với ai thì người ấy được đón nhận, còn thì nuôi dưỡng, chăm bẵm thế nào lại lệ thuộc vào mỗi người. 

 

Có ý kiến cho rằng : Văn học trẻ  hiện nay thiếu những tác phẩm lớn, các tác giả chỉ chú trọng khai thác cái Tôi bé nhỏ mà không vươn đến những đề tài lớn như : chiến tranh cách mạng, lịch sử, hay phản ánh sự vận động mạnh mẽ của đất nước trong giai đoạn hiện nay. Ý kiến của anh/chị?

 

Đỗ Bích Thuý:Trước khi viết được những tác phẩm lớn chẳng phải cha chú chúng ta cũng phải bắt đầu từ những cái tôi bé nhỏ sao? Đề tài lớn, không gian rộng, ảnh hưởng bao trùm, thậm chí vươn ra ngoài biên giới… ai chả mong như vậy, nhưng để làm được thì phải cho lớp trẻ thời gian. Nhất là nhiều cây bút mặc dù đang nổi như cồn, đang được độc giả chú ý, săn lùng những cuốn sách mới ra lại đều chỉ coi viết văn như nghề tay trái. Nghề tay trái mà họ đã thành công như vậy, tôi thấy rất đáng trân trọng, vì nể.

Nguyễn Đình Tú:Văn học có cách nói riêng của nó, kiểu như “tận cùng cái tôi là cái ta, tận cùng cái nhỏ là cái lớn, tận cùng dân tộc là nhân loại”.  Đôi khi người đọc cũng phải thay đổi tư duy cảm thụ, đừng tưởng bối cảnh hoành tráng trong văn học là nói về cái lớn, và ngược lại.

 

Nếu như giai đoạn trước, rất nhiều cây bút trưởng thành từ chiến tranh, hoặc trong các môi trường lao động khác nhau như nông thôn, công trường, các nhà máy xí nghiệp… thì hiện nay văn học của chúng ta ngày càng thiếu lực lượng cầm bút này. Chính vì điều này dẫn đến sự thiếu hụt những mảng đề tài đa dạng khác trong văn học và những trang viết thấm đẫm thực tế . Những đợt thâm nhập thực tế ngắn ngày xét cho cùng chỉ là “cưỡi ngựa xem hoa”, khó có thể kì vọng những tác phẩm thật sự xuất sắc.Theo anh/chị, liệu có cách nào khắc phục điều này?

 

Nguyễn Đình Tú:Tôi trân trọng tất các các cách thâm nhập thực tế, nhưng với tôi, để sáng tác văn học thì đó không phải là tất cả.

Page 140: Tieu Thuyet Nong Thon

Đỗ Bích Thuý:Nếu chị cho rằng vì “cưỡi ngựa xem hoa” mà không có tác phẩm viết sâu về các đề tài đó thì chẳng phải có một cách rất đơn giản là đưa các nhà văn về sống hẳn ở đó năm, mười năm là có sáng tác hay sao.

 

Đời sống văn học trẻ hiện nay đang nổi lên một số hiện tượng: sự xuất hiện ồ ạt của những tác phẩm được “khai sinh” từ mạng Internet,  vấn đề giới tính được đề cập khá cởi mở trong văn học, ngày càng có nhiều  tác giả trẻ tìm đến với thể loại tiểu thuyết. Xin anh/chị cho biết ý kiến của mình trước những sự chuyển động này trong đời sống văn học?

 

Nguyễn Đình Tú:Đó là những dấu hiệu tốt, cho thấy văn học cũng có những chuyển động theo sự chuyển động của xã hội. Tôi quan tâm đến mọi chuyển động của văn học và hy vọng là sẽ có tác phẩm hay. Các cây bút trẻ viết tiểu thuyết hiện nay thoáng nghe có vẻ nhiều nhưng thực ra không nhiều đâu, chỉ có khoảng hơn chục người thuộc thế hệ 7x như Đỗ Tiến Thuỵ, Nguyễn Thị Diệp Mai, Nguyễn Thế Hùng, Phùng Văn Khai, Đỗ Bích Thuý, Di Li, Nguyễn Danh Lam, Nguyễn Ngọc Thuần, Vũ Đình Giang, Trần Nhã Thụy, Phong Điệp, Đặng Thiều Quang, Nguyễn Xuân Thuỷ…, còn 8x cũng chỉ có vài người như Nguyễn Văn Học, Nguyễn Quỳnh Trang, Hà Thuỷ Nguyên… Chẳng qua một thời gian dài chúng ta cứ nghĩ tiểu thuyết là cái gì ghê gớm và chỉ dành cho những người “có tuổi” nên có cảm giác bây giờ nhiều người trẻ đang xông pha vào thể loại này. Mà ngoài ba mươi tuổi viết tiểu thuyết thì cũng không phải là trẻ so  với các bậc tiền bối như Nguyên Hồng, Vũ Trọng Phụng, Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo… đâu.

 

Đỗ Bích Thuý:Tôi cho rằng vấn đề chị đặt ra liên quan đến hai khía cạnh: Nhu cầu sáng tạo và nhu cầu tiến gần tới độc giả. Ở mỗi cây bút đều có hai nhu cầu này. Internet là một chiếc cầu nối hữu ích từ người viết tới người đọc, một trong những lợi thế của nó là người viết có thể công bố ngay lập tức tác phẩm của mình ngay khi vừa hoàn thành, và cũng sẽ gần như ngay lập tức họ nhận được phản hồi từ phía độc giả. Và bởi vì độc giả không nhất thiết phải lộ diện nên những nhận xét, đánh giá của họ được xem như khá khách quan. Và nhận được sự phản hồi cũng là một nhu cầu đáng kể của người viết. Đó là nguyên nhân để văn học mạng ra đời, phát triển mạnh mẽ. Còn việc các tác giả trẻ tìm đến với thể loại tiểu thuyết thì tôi cho rằng nó hầu như đều xuất phát từ nhu cầu sáng tạo của mỗi người, khi họ thấy tấm áo truyện ngắn trở nên chật chội thì họ tìm đến tiểu thuyết. Riêng vấn đề giới tính, nên coi nó đơn giản như một khía cạnh cuộc sống. Cuộc sống có gì thì văn chương có cái đó.

 

 

Có lẽ đã khá lâu vấn đề nông dân – nông thôn như một đề tài của văn học mới được dấy lên khá rầm rộ trên các phương tiện thông tin đại chúng. Một câu hỏi được đặt ra: tại sao người viết hiện nay không mặn mà với đề tài này. Sự xa rồi nông thôn – nông dân trong các tác phẩm văn học hiện nay có phải là một điều đáng lo ngại? Anh/chị nghĩ sao về điều này?

 

Nguyễn Đình Tú:Tôi thấy buồn cười khi mọi người cứ đặt vấn đề về đề tài đối với văn học. Tiểu thuyết hiện đại đang có xu hướng kết hợp đa đề tài trong một tác phẩm, tại sao lại cứ tách bạch một cách cơ học ra như thế để làm gì? Mỗi khi tôi viết xong một tác phẩm nào đó, người ta cứ hỏi viết về đề tài gì thế, là tôi rất khó trả lời. Tôi ví dụ nhé, một tác phẩm viết về một thanh niên nông thôn đi bộ đội, vào sinh ra tử rồi xuất ngũ ra làm doanh nghiệp, rồi chuyển sang làm chính trị, yêu rất nhiều và thất bại cũng rất nhiều, rồi về già thì đi tu và đắc đạo, thì thử hỏi đó là đề tài gì? Nông thôn à? Chiến tranh à? Kinh tế à? Chính trị à? Tôn giáo à? Hay tâm lý diễm tình?

 

Page 141: Tieu Thuyet Nong Thon

Đỗ Bích Thuý:Cũng không hẳn như vậy. Tôi cho rằng sở dĩ có cảm giác người viết hiện nay không mặn mà với đề tài này là bởi vì những tác phẩm như vậy thường được xuất bản trong lặng lẽ, sâu xa hơn có lẽ vì đây không phải là một đề tài đang chiếm lĩnh thị phần nên khi ra mắt đã không được các phương tiện thông tin đại chúng chú ý, quảng bá rầm rộ, và thế là loại sách này có khi cả ngàn cuốn cuối cùng đều phần lớn nằm trong hệ thống thư viện. Bên cạnh đó, nếu nói riêng với người viết trẻ thì dường như trong số những người được dư luận chú ý ít nhiều hiện nay phần lớn không sinh ra ở nông thôn, hoặc giả họ đã xa nông thôn quá lâu, họ thân thiết với cuộc sống đô thị hơn, nên dĩ nhiên họ sẽ khai thác những gì họ hiểu nhất, rõ nhất, đắm đuối nhất. Nhưng tôi vẫn tin, với mảng đề tài này, đã và sẽ còn nhiều người gắn bó và tìm được lối đi riêng, chỉ có điều trong sự ồn ào của các phương tiện truyền thông thì trước mắt có lẽ họ vẫn phải chấp nhận tạm thời đứng ra rìa đã.

 

Trước những chuyển động hiện nay trong đời sống văn học, anh /chị có thể dự báo xu hướng văn chương trong thời gian tới?

 

Nguyễn Đình Tú:Phong phú, đa dạng và sẽ có tác phẩm hay.

Đỗ Bích Thuý:Tôi nghĩ thời gian tới sẽ rộ lên hàng loạt tiểu thuyết của các cây bút trẻ.

 

 

Có một thực tế là văn học Việt Nam ra “trường quốc tế” còn khá hạn hẹp. Kênh “xuất ngoại” hiện nay dường như vẫn dựa vào các nỗ lực cá nhân hoặc sự vận động của một số tổ chức . Điều này cũng là vấn đề đáng suy nghĩ. Anh/chị có thể cùng chia sẻ về vấn đề này?

 

Nguyễn Đình Tú:Hạn chế lớn nhất là ngoại ngữ. Tôi nghĩ thế hệ người viết 8x, 9x, 0x sẽ khác. Họ sẽ biết tự đưa tác phẩm của họ ra khỏi biên giới mà không quá phụ thuộc vào các tổ chức đoàn hội.

 

Đỗ Bích Thuý:Tôi không biết rõ lắm về quy trình “nhập khẩu” văn học nước ngoài vào Việt Nam, nhưng phải nói công bằng rằng: Bên cạnh những cuốn sách rất hay của thế giới, ở ta vẫn đang có hàng loạt sách tầm tầm. Nhưng các nhà xuất bản trên thế giới họ làm sách rất giỏi, họ luôn biết tìm những điểm nhấn xuất sắc nhất trong mỗi tác phẩm để giới thiệu, và nếu đã đọc những đoạn giới thiệu (thường là của các tờ báo, tạp chí danh tiếng) in trên bìa 2,3,4 thì mình khó có thể không cho tay vào ví và móc tiền ra. Đã nhiều lần tôi rơi vào tình huống ấy, nhưng về nhà đọc sách lại rất thất vọng, thấy rằng sách của người Việt, viết bằng tiếng Việt còn đầy những cuốn hấp dẫn bằng mấy. Vậy mà sách của họ vẫn được dịch ra mấy thứ tiếng. Tôi thật không biết nói sao về việc này, cũng không biết để có một con đường cho văn học Việt Nam ra với thế giới thì phải bắt đầu từ khâu nào, phải chăng ta nên tham khảo xem thế giới đã làm cách nào để các nhà xuất bản của ta phải in kìn kìn sách của họ?

 

Chúng ta cùng hy vọng rằng mỗi người  - bằng sự nỗ lực của chính mình, ví như nhà văn sẽ cho ra đời những tác phẩm tốt, nhà quản lý sẽ có chiến lược cụ thể cho văn chương Việt hội nhập… văn học Việt nam sẽ thu hút được sự quan tâm chú ý cũng như sự yêu mến của  bạn bè thế giới. Xin cảm ơn nhà văn Đỗ Bích Thuý và nhà văn Nguyễn Đình Tú về cuộc trò chuyện này

Page 142: Tieu Thuyet Nong Thon

 

 

“Thần thánh và bươm bướm” - một tiểu thuyết về văn hoá Việt Nam của Đỗ Minh Tuấn(*)

Thứ hai, 28 Tháng 11 2011 15:33 Trần Đình Sử

 Đỗ Minh Tuấn là nghệ sĩ đa tài. Anh đã gây ấn tượng cho người tiếp nhận về điện ảnh, về thơ ca, về hội hoạ, về lý luận phê bình, giờ anh lại gây ấn tượng về tiểu thuyết. Thần Thánh và bươm bướm đã thu hút tôi ngay từ lần đọc đầu tiên. Giữa rất nhiều tiểu thuyết Việt Nam mà tôi tạm chia làm mấy loại: Tiểu thuyết toàn cảnh (như Thời của Thánh thần, Dưới chín tầng trời, Cuồng phong...), tiểu thuyết về cuộc chiến vừa qua, về thời bao cấp (như Vùng lõm, Sài gòn đêm không ngủ, Chân trời mùa hạ...), tiểu thuyết lịch sử (như Mạc Đăng Dung, Hội thề, Nguyễn Thị Lộ...), tiểu thuyết đời thường đương đại (như Xuân Từ Chiều, Quyên, Thức giấc, ...)... Thần thánh và bươm bướm không chỉ là tiểu thuyết viết về người nông dân, nông thôn Việt Nam trong thời buổi kinh tế thị trường, về khát vọng, tâm tư của họ, số phận của họ, mà chủ yếu, còn là tiểu thuyết về văn hoá Việt Nam, tâm thức Việt Nam. Tiểu thuyết viết rất ngẫu hứng, đầy chất nghệ sĩ, người ta thấy tác giả hoàn toàn tự do trong cấu tứ của mình, không hề có dấu hiệu gò gẫm vào chủ đề quan trọng, nhưng thực chất đã nói được nhiều điều rất quan trọng của đời sống hôm nay.

Tiểu thuyết của Đỗ Minh Tuấn có ba điểm đặc sắc. Một là phản ánh hiện thực văn hoá nông thôn thời kinh tế thị trường; hai là sự khác biệt của hai thế hệ cha – con; ba là tính hài hước, giếu nhại, cười ra nước mắt xuyên suốt cuốn truyện, lôi cuốn người đọc từ đầu đến cuối.Nói tiểu thuyết của Đỗ Minh Tuấn phản ánh hiện thực, nhưng đó không phải cái hiện thực lâu nay người ta vẫn hiểu, dùng để hoạch định chính sách, vẫn rao giảng trong giáo trình, mà là hiện thực trong hiểu biết và tâm linh của các nhân vật, tức là của người nông dân Việt Nam. 25 chương tiểu thuyết dành kể về chuyện về xung đột cha con Cảnh – Giác, gây ra ngộ sát, sùng bái kẻ ăn mày Thanh Hoá đem lại vận may (ch.1 – ch.4); chuyện quan hệ cha con Thao - Chấn, Chấn xưng thánh rồi thánh mất thiêng (ch. 5 – ch.10); chuyện quan hệ Minh - Jon và nhu cầu tôn tạo nhà thờ tổ (ch.11 –Ch.13); chuyện Thao đi Yên Bái mua súng lục để chờ dịp sang Mỹ với chàng rể tương lai, rồi gặp Lôi, người đồng đội cũ với đứa con quái thai vì chất độc da cam khiến anh bị sa vào việc bảo về cây bưởi nở hoa bốn mùa và cuộc đấu tranh chống dự án xây sân golf của Đài Loan rồi dần dần mơ ước làm dự án mua bán bọ hung và bươm bướm với giá một con 5000 đô-la; chuyện mâu thuẫn giữa hai làng Đông Phúc và Tây Lợi quanh chuyện giải phóng mặt bằng xây sân Golf dẫn đến việc cây bưởi quý bị cậu phó bí thư đoàn thanh niên đặt mìn phá đổ (ch.14 – 20); chuyện Thao đi gọi thêm người bảo về cây bưởi thì lại sa vào chuyện bảo vệ đồ cổ, rủ rê Quỳ mang hài cốt mẹ về Đông Phúc rồi gây xô xát với trong làng buôn hài cốt cổ, gây ngộ sát, lĩnh án tù 7 năm. (ch.20 – ch.25). Cuối cùng, Thao ra tù thì thấy làng thay đổi, sân golf làm xong, công ty nước ngoài sang khai mỏ, đem công ăn việc làm cho dân, uỷ ban vui vẻ tặng cho nhà đầu tư nước ngoài cây gạo cổ thụ linh thiêng nhất của làng, máy bay trực thăng cẩu cây bay lơ lửng trên trời, có đàn chim bay theo (phần vĩ thanh). Tiểu thuyết đầy rẫy những sự kiện ngẫu nhiên và phi lí như chuyên lão ăn mày hướng dẫn chôn con chó, rồi bắt được vàng, bị Giác lấy cặp mất vàng rồi lại lấy lại được vàng, chuyện cây gạo nở hoa bốn mùa, cây bưởi nở hoa bốn mùa, chuyện Chấn tự nhiên sau cơn ốm trở thành thánh...Nếu hiểu hiện thực huyền ảo (magico realismo) là hiện thực mang đầy những cái siêu nhiên thì tiểu thuyết của Đỗ Minh Tuấn có thể coi là một thứ hiện thực huyền ảo kiểu Việt Nam. Nhưng tiểu thuyết của anh lại pha xen chất u mua, hài hước. Con người trong tiểu thuyết của tác giả không phải được hiểu theo lối phân tích giai cấp thông thường như trong sách vở triết học duy vật biện chứng mà được hiểu theo các mã văn hoá. Thử

Page 143: Tieu Thuyet Nong Thon

hỏi, cái gì xui khiến các nhân vật hành động trong tiểu thuyết? Đó là mê tín, bản năng, lòng tham, một mặt chạy theo các tin đồn, các thông tin, tri thức do truyền thông, quảng cáo, tivi, băng hình mang lại; mặt khác lại không có thông tin gì, không hiểu thế nào là hợp đồng kinh tế. Dân làng không hiểu biết về thị trường nhưng lại sôt sắng với các động thái thị trường, nên bị lừa về dự án sân golf. Người dân hoàn toàn thiếu tin tức, thiếu kiến thức khoa học, thiếu lí tính, thiếu hiểu biết về văn hoá, về các giá trị, cho nên dễ bị lừa. Con người ở đây hoàn toàn thiếu tính chủ thể, họ được nhào nặn bởi một ít truyền thống mê tín, lòng hám lợi và nhiều thông tin linh tinh chẳng đâu vào đâu. Mê tín, tâm linh là phương diện nổi bật nhất. Điều thú vị là chủ tịch Chiến cùng đảng ủy ra lệnh cẩm mê tín, dị đoan, thậm chí cho dân quân canh gác chống cúng bái quanh cây gạo, nhưng dân quân lại cúng bài và dẫn đến cuộc tế thần cây gạo do đảng uỷ lãnh đạo. Do bản tính trọng tình, Thao quên mình giúp bạn, hết giúp Lôi đến giúp Quỳ và sa vào tội ngộ sát. Cũng duy tình nên dân làng Bái Hạ sẵn sàng biếu công ty khai thác mỏ nước ngoài cây gạo cổ thụ linh thiêng của làng. Kinh tế thị trường làm cho dân các làng hoang tưởng,  nhảy múa, nó như một thứ thuốc thử, làm hiện hình lên sự thiếu hụt văn hoá thảm hại. Văn hoá mê tín, tâm linh chẳng giúp gì cho việc làm ăn, còn tri thức đích thực để làm ăn kinh tế thì không có gì. Chính cái văn hoá ấy khiên dân ta bị lừa bán móng trâu, bán rể hồi, bán cả cây lẫn rể hoàng liên làm cho giống cây này mất giống, bán đỉa, mua nuôi hải li, mua rùa tai đỏ, và sẵn sàng bán hết các giống vật quý hiếm cho nước ngoài.Thao là cựu chiến binh, là nhân vật phiêu lưu rất tiểu thuyết. Nhiều nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam ít chất phiêu lưu nên được viết giống như bản ghi chép tiểu sử, ít hấp dẫn. Thao là con người quyết đoán, định làm gì là làm ngay, không lường hậu quả. Thao như nhiều ông bố trong truyện rất gia trưởng, đánh con những đòn rất ác, như ném cái ghế làm gảy ba xương sườn và giập lá lách suýt làm con chết. Thao còn có tính mafia, khi đòi mua lại một ít vịt đỏ có vận may, không được thì ăn căp, ăn cắp không được thì đốt cháy cả chuồng vịt nhà người ta. Không biết pháp luật và tôn trọng pháp luật. Thao thương đồng đội như thời còn chiến tranh, nhưng cũng đầy tự ái, mặc cảm tự hào lố bịch khi đối diện với Jon. Thao bị bản năng lôi cuốn khi bắt chước thánh Chấn chữa bệnh mất ngủ cho con gái đồng đội, cô Liên 17 tuổi bằng thôi miên tình dục, nhưng Thao không đi dến cùng vì tay sờ phải vết sẹo hồi bé của Liên, anh thức tỉnh và dừng lại. Đó là nét đẹp của Thao. Thao tiêu biểu cho một bộ phận đông đảo người mang tâm thức văn hoá nông dân Việt.Thế hệ trẻ trong tác phẩm như Giác, tham lam, sẵn sàng “khủng bố tâm linh”, đập vỡ bát hương trên bàn thờ gia tiên, ngộ sát rồi bỏ chạy sang Mĩ. Chấn xưng thánh một thời. Liên ngây thơ, chưa thành người lớn. Cô Tỉnh em gái Giác bị bố mắng đánh suýt treo cổ tự tử, may có lão ăn mày đến cứu. Minh thực dụng trong tư cách cave kiêm tình nhân của Jon. Cậu phó bí thư thanh niên đặt mìn phá đổ cây bưởi chỉ vì mối lợi viễn vông. Thế hệ này ở đây vô cảm, chỉ biết lợi. Nó hầu như được nhào nặn hoàn toàn bởi các phương tiện truyền thông với đủ loại thông tin làm cho con người mất đi bản lĩnh tự chủ. Phụ nữ trong truyện thì số phận rất buồn, luôn luôn bị chồng đánh chửi. Đọc Thần thánh và bươm bướm thấy biểu hiện bạo lực trong gia đình và xã hội khá nhiều, các ông bố đánh con tàn bạo, đối xử với vợ cũng nhiều khi thô bạo. Các làng sẵn sàng dùng bạo lực xử lí những bất đồng, như làng Tây Lợi mang gậy gộc sang phá cây làng Đông Phúc. Những người còn kiên định văn hóa truyền thống như dân làng Đông Phúc thì dần dần trở nên yếu ớt và thỏa hiệp, bắt đầu bị cuốn hút vào các dự án siêu thương mại nhằm xuất khẩu bọ hung và bươm bướm.Thần thánh và bươm bướm của Đỗ Minh Tuấn đã cho thấy sự thiếu hụt thảm hại về văn hoá khi nước ta bước vào nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Với trình độ văn hoá ấy khó mà nhìn thấy tương lai nào cho nông thôn Việt Nam. Không thể nói khái quát của Đỗ Minh Tuấn là tuyệt đối chính xác. Có thể có người cho Đỗ Minh Tuấn cường điệu, nhưng có cường điệu như vậy thì các hiện tượng đáng buồn quái dị kia mới hiện hình đầy đủ và ấn tượng để cho ta lo lắng.Thần thánh và bươm bướm vừa huyền ảo vừa hoạt kê, ngôn từ giễu nhại là rất đặc sắc. Tác giả nhại ý nghĩ của thằng Giác. “Làng Đông Phúc có dự án đầu tư, các cụ không chịu cho phá chùa để xây sân golf. Lạc hậu u mê quá! Giữ làm gì cái chùa tối om, mù mịt, khói hương và toàn các bà già ê a lễ bái. Trên VTV3 người ta chiếu nhiều cảnh chơi tennis, chơi golf trên thế giới, chứ có mấy khi chiếu cảnh cầu kinh đâu.” Và đây là suy nghĩ hoang tưởng của dân làng: “Thời đại khoa học phát triển vù vù, hôm nay người ta mua bướm, mua bọ hung, ngày mai phát minh ra cái mới, người ta đổ xô đi mua ruồi, muỗi, thạch sùng, giun đất và bọ chó thì cứ gọi là cả làng cả xã làm không hết việc.” Còn đây là luận điệu nguỵ tạo để phá đình, phá cây làm sân golf: “Không phân

Page 144: Tieu Thuyet Nong Thon

biệt cây làng nọ với đình làng kia. Văn hoá làng xã lạc hậu lắm rồi, Bây giời phải tư ruy theo quy hoạch của dự án, bao trùm cả diện tích hai làng. Phải vì lợi ích chung. Chúng ta cần quán triệt tinh thần đó để vận động bà con quyết tâm giải quyết mặt bằng trong tuần này. Để lâu là lỡ thời cơ đấy!(…)Phải coi đây là trận Điện Biên Phủ, hạ cây bưởi túc là hạ được đồi A1.” Toàn những lập luận nhăng nhít rất phổ biến chi phối ý thức dân làng. Đỗ Minh Tuấn giễu nhại hầu hết mọi chuyện, trang nào cũng có những đoạn giếu nhại. Nhưng ông là cây bút trữ tình, đằng sau hài hước, giếu nhại là lòng cảm thông, thương xót. Cả tiểu thuyết gióng lên một thông điệp: Trong kinh tế thị trường văn hoá nông thôn ta đi về đâu và đâu là tương lại của nông thôn Việt Nam?./. _____________* Tham luận tại Hội thảo về tiểu thuyết Thần thánh và bươm bướm của Đỗ Minh Tuấn, Hội nhà văn VN tổ chức ngày 25-11-2011

BIẾN HOÁ ĐA DẠNG VĂN XUÔI NGUYỄN KHẢI

Thứ ba, 13 Tháng 12 2011 23:16

PGS.TS. Đoàn Trọng Huy

 

Nguyễn Khải là cây bút hàng đầu văn xuôi hiện đại Việt Nam. Hơn thế nữa, còn là cây bút tiên phong, sớm đổi mới văn học đã có chuyển hướng nhanh nhạy từ trước phong trào đổi mới chính thức và thực sự trong văn học. Nhà văn  tự bạch: “Từ 1955 đến 1977 tôi sáng tác một cách, từ 1978 đến nay sáng tác theo cách khác”(1)

Khi Nguyễn Khải ra đi, đánh giá  một cách công minh, nhà văn Nguyên Ngọc viết: “ Anh là một trong những nhà văn chuyên nghiệp nhất trong thế hệ chúng tôi, theo nghĩa tốt đẹp nhất của khái niệm đó”(2). Coi viết văn là nghiệp một đời, Nguyễn Khải đã sớm xác định được quan niệm sáng tác hoàn chỉnh, chính xác, giàu sáng tạo. Nhà văn vừa sáng tác vừa trao đổi, tâm sự những trải nghiệm về nghề viết. Sau hàng chục năm cầm bút, Nguyễn Khải càng quan tâm đến nghề: Nghề văn, Nhà văn, Hội Nhà văn (Văn nghệ 18 – 30/04/1988), Nghề văn cũng lắm công phu (1 và 2) (Văn nghệ 52 – 26/12/1992 và Văn nghệ 1 – 2/1/1993),. Chuyện nghề – Hội Nhà văn, 1999… Qua đó không chỉ là tâm huyết mà còn là suy tưởng về nghề nghiệp đã chắt lọc một đời. Gọi là tạp văn hay tạp luận về nghề, về nghiệp đều đúng.

Về văn xuôi, Nguyễn Khải đã có nhiều đóng góp trong đó có vấn đề phát triển thể loại với một quan niệm mới về thi pháp và phong cách: “Cách  viết của Nguyễn Khải nói chung là linh hoạt, năng động, không gò bó, phụ thuộc nhiều vào một khuôn mẫu sẵn có. Có sự phát triển song song và sự đan lồng xen kẽ của các thể loại văn xuôi”. (3)

A. TƯƠNG TÁC THỂ LOẠI VĂN HỌC

Có ba hiện tượng tiêu biểu nổi bật trong sáng tác văn xuôi của Nguyễn Khải.

Trước hết là hiện tượng vừa song hành, vừa độc hành trong phát triển  thể loại của một ngòi bút.

Page 145: Tieu Thuyet Nong Thon

Nhất quán với một tư tưởng nghệ thuật, cùng một tư tưởng chủ đề thống nhất nhưng vấn đề quan tâm lại được triển khai trên những loại khác nhau, bằng những ngôn ngữ nghệ thuật không giống nhau, theo những tiêu chí không đồng nhất. Rõ nhất của biểu hiện trên là tự  sự và kịch.

Năm 1977, kịch Cách mạng xuất hiện. Bốn năm sau, Gặp gỡ cuối năm - tiểu thuyết ra đời(1981), giữa hai sáng tác có sự tiếp nối biện chứng

Cách mạng được sáng tác ngay sau ngày thống nhất đất nước không bao lâu ,không khí biến động trong xã hội vẫn đang “nóng” bởi những thay đổi ghê gớm của những sự kiện, những số phận. “Đi hay ở”, “từ chối hay chấp nhận” là câu hỏi quay cuồng trong đầu óc không ít người. Bi kịch ấy thường xảy ra trước hết lớp trí thức – lớp người còn khá nặng lòng với quá khứ, với những dây nhợ vô hình  cũ  kỹ đã lâu… Khái quát hóa, đó là sự đụng độ, sự đối mặt của ngày hôm nay cách mạng và ngày hôm qua lầm lỗi của những con người cũ Sài Gòn . Với ngôn ngữ kịch, nhà văn dồn nén những suy nghĩ, những tư tưởng vào những cái gút – nơi biểu hiện rõ nhất của xung đột, đối chọi. Và qua đó là thủ thuật mở gút (hay mở nút so với thắt nút) giải toả căng thẳng, báo hiệu sự chiến thắng của chân lý - ở đây là chân lý cách mạng. Nhân vật được phân rõ ở hai tuyến. Đối thoại là “vũ khí” để giao tranh. Màn kịch chính là sự thu nhỏ đến mức “cực tiểu” của hoàn cảnh, những khung cảnh chứa chất nhiều kịch tính nhất. Thời gian kịch cũng cực kỳ dồn nén: những  giờ phút vi mô chứa đựng thời gian lịch sử. Với ngôn ngữ đặc trưng của kịch, Cách mạng thể hiện một vấn đề có ý nghĩa triết lý: Sự lựa chọn trong tình huống lựa chọn mà sau này được tái hiện trong Gặp gỡ cuối năm. Tuy nhiên màu sắc nổi bật ở  vở kịch là xung đột  ý thức hệ, còn ở tiểu thuyết do có lợi thế đào sâu hơn vào thế giới tâm hồn nhân vật, nhà văn lại khai thác thêm và kỹ hơn về xung đột đạo đức. Đó là sự thay đổi một lối sống cũ, công nhận một cơ chế mới, chấp nhận một hiện thực chưa có tiền lệ.

Đã có những nhận xét đọc Gặp gỡ cuối năm và phân tích rõ sức hấp dẫn của cuốn tiểu thuyết đặc sắc này(4)

Ở Gặp gỡ cuối năm có nhân vật ở Cách mạng đã “vắng mặt”. Đồng thời lại hiện diện, góp mặt và nổi lên giữa “một lớp người ọp ẹp, cũ kỹ” là Bình, một kỹ sư hoá học trẻ tuổi. Bình không chỉ nổi bật giữa đám người cũ kỹ mà lại được phân biệt với những người cùng đội ngũ(như Dũng, Hảo) Nhân vật không chỉ được mở rộng về thành phần, tư cách mà chủ yếu được đào sâu hơn vào thế  giới tâm hồn. Hành động của Phượng trong Cách mạng có tính bột phát, đơn giản. Còn việc thừa nhận của bà Hoàng ở tiểu thuyết có vẻ đột ngột nhưng lại là có quá trình, ngắn là những năm tháng sống sau Sài Gòn giải phóng, dài là những chiêm nghiệm của cả cuộc đời qua bao đắn đo, dằn vặt, bức xúc ,suy ngẫm. Có những phát triển tâm lý rõ rệt. Trước kia ở Cách mạng bà Hoàng còn nhìn Chương – nhà “chính khách” có mẽ một thời với thái độ nửa tin nửa ngờ thì nay ở tiểu thuyết đã thất  vọng với nhà chính trị ra dáng đó, niềm tin ở chế độ “Việt Nam cộng hoà” đã lung lay tận gốc. Đại là cái bóng mờ nhạt trước kia thì nay sắc sảo hẳn lên. Tóm lại thế  giới nhân vật được hiện rõ nhờ tư duy tiểu thuyết của nhà văn. Đặc biệt ở Gặp  gỡ cuối năm, Bình xuất hiện như chủ nhân của một trật tự  xã hội mới là nhân vật thiên về chất lý tưởng, đóng vai trò là một tác nhân tích cực trong quá trình lựa chọn  của các nhân vật

Ngôn ngữ và giọng điệu qua nghệ thuật kể chuyện ở năm Gặp gỡ cuối năm là đa thanh và biến hoá hơn. Người này hỏi, người  kia trả lời, câu trả lời lại gợi ý cho một suy tư khác. Đối thoại tự do mà gắn bó bằng một chủ đề, ngôn ngữ thoáng qua mà tư

Page 146: Tieu Thuyet Nong Thon

duy sâu nặng đọng lại .

Đặc biệt, qua tiểu thuyết, Nguyễn Khải đã gửi gắm được nhiều triết lý :quy luật cuả tất yếu và sự lựa chọn cá nhân  trước tất yếu, lẽ đời được, mất trong sự lựa chọn, cái vô ích và cái hữu ích của đời người hữu hạn trong thời gian vô hạn…Nhà văn  đã tận dụng được khả năng chuyên chở, chuyển tải lớn của dung lượng tiểu thuyết.

Tuy nhiên mỗi thể  loại  có sức hấp dẫn riêng do những ngôn ngữ nghệ thuật mang những vẻ đẹp khác nhau. Nói cách khác mỗi tác phẩm đem lại những cảm thụ mỹ học khác nhau.

Trường hợp sáng tác có vẻ ngược lại là truyện Nắng chiều(1981) và kịch Hạnh phúc đến muộn(1999), truyện này cũng đã được dựng thành phim truyền hình.

Chị  Bơ thời trẻ và bà Bơ khi về già trong Nắng chiều và Gặp gỡ cuối năm là một nhân vật có nét có vẻ kỳ lạ, có thân phận  và hành vi có vẻ kỳ quặc. Bản thân nhân vật chứa đựng hai vị thế, hai tính cách gần như đối lập .Là  người chị họ, ăn đậu ở nhờ nhưng thực chất là kẻ đi ở, hầu hạ cho gia đình nhà giàu có. Chị Bơ vừa được tôn trọng vừa bị khinh bỉ, vừa được tin cậy như người giữ của trung thành vừa bị hắt hủi. Một đời đi ở từ trẻ đến già, tự nhiên do mối lái  tìm lại được người tình cũ trong hoàn cảnh rất  éo le. Làm hôn nhân giả để có thể xuất cảnh nhưng hoá ra tìm được hạnh phúc muộn màng nhưng chân chính của cuộc đời và người bạn tình rất mực thuỷ chung. Kịch Hạnh phúc đến muộn triển khai trong một hoàn cảnh giả thành thật, tình huống cũng “lộng giả thành chân” có những điều tưởng như trái ngược, nghịch lý mà lại thuận tình, hợp lòng. Nguyễn Khải  khai thác thật sâu cái tính kịch của một cuộc đời để đưa chuyện đời thành một bi hài kịch về nhân tình thế thái với chủ đề ca ngợi hạnh phúc chân chính.

Cùng với Một thời gió bụi- truyện , 1991 chuyển thành Vòng tròn trống rỗng là một bút pháp khai thác sâu vào thế giới tâm tư bí ẩn của con người để tìm ra những nét đối lập, nghịch đảo, xung đột đầy kịch tính.

Nguyễn Khải nêu một kiểu sáng tác đúng hơn là một kiểu vận dụng tương tác thể loại để biến hoá thành những ngôn ngữ nghệ thuật mang những giá trị biểu cảm và hấp dẫn thẩm mỹ khác nhau. Và điều quan trọng là nhà văn đã đạt được hiệu quả nghệ thuật như mong muốn với vẻ đẹp đa dạng của văn xuôi và kịch.

Một biểu hiện khác là hiện tượng xâm lấn giao thoa của thể loại.

Quan hệ chủ yếu bộc lộ ở đây là thể với thể hoặc yếu tố nòng cốt và yếu tố đan xen  của thể hoặc sự biến hoá của thể.

Trong văn xuôi Nguyễn Khải thể hiện khá rõ là  giữa lằn ranh truyện và ký.

Nguyễn Khải từng viết và thành công ở truyện (tiểu thuyết, truyện vừa, truyện ngắn) và ký(ký sự, phóng sự) và còn ở một dạng có nhiều liên quan: tạp văn có  hàm chứa yếu tố truyện và ký. Sự “lấn sân” xảy ra nhưng là việc làm có chủ ý nhằm tạo những hiệu quả cảm thụ khác nhau.

Gặp gỡ cuối năm thực  chất là một cuộc đối thoại của thế giới mới – cũ, của hai ý

Page 147: Tieu Thuyet Nong Thon

thức hệ – một đã chiến thắng và một đã thất bại. Chương “tự nhận mình là kẻ thất bại, một đời làm chính trị thất bại” Quý cũng thế, tuy có điều khác một chút. Qua những “tự thuật”, “tự bạch” ta thấy được một khung cảnh chính trị đã qua. Nói cách khác, cùng với một số trao đổi, đàm đạo khác, ta đọc được một phóng sự lý thú sinh động về hoạt động chính giới Sài Gòn cũ. Các nhân vật chóp bu đều được điểm mặt từ Ngô Đình Diệm đến Trần Văn Chương, Ngô Đình Nhu,  Nguyễn Khánh, Nguyễn Chánh Thi. Rồi Trần Trung Tuyến, Cao Văn Viên… Có cả bóng dáng quan thày :  Daniel, Staley… Nhân vật kể qua câu chuyện rất nhiều: về CIA, về tổ chức RANT, cơ quan tình báo nổi tiếng và cơ quan nghiên cứu chính trị quân sự trên căn bản kinh tế. Rất nhiều con số về viện trợ Mỹ cho chính  quyền Thiệu. 1970 – 1972 - 2 tỷ đôla/ năm rút xuống 1 tỷ rưỡi năm 1973 và đến 1975 còn 300 triệu… Qua Quân, chiến sĩ tình báo chiến lược, tiểu thuyết cho biết nhiều tường trình quân sự của cơ quan MAAG trong suốt cuộc chiến, từ 1955. Tóm lại, đứng ở một góc độ mà xét ,Gặp gỡ cuối năm là một tiểu thuyết phóng sự kiểu mới. Cũng vậy nếu tiểu thuyết này mang đậm chất “phóng sự chính trường” thì Điều tra về một cái chết lại là “phóng sự tôn giáo”. Đó là vấn đề đạo giáo ở miền Nam; có phần khác với Gia tô giáo trong loạt truyện ở miền Bắc, rõ nhất là Cha và con và… Qua cuộc đời Tư Tốn, người đọc thấy được lịch sử - một khoảng lịch sử - khá dài của đạo giáo Cao Đài vùng Tây Ninh. Vũ Trọng Phụng xưa kia nổi tiếng là Vua phóng sự đất Bắc chính vì đã biết đào rất sâu vào một mảng hiện thực đặc biệt với những tư liệu thông tin chính xác nhiều giá trị thuyết phục. Nguyễn Khải vốn có cảm hứng dặc biệt với đề tài tôn giáo từ rất lâu và đã thâm nhập cái thế giới tâm linh trong cả quá trình cầm bút, vì vậy “ thế giới đạo giáo” chính cũng là một “phóng sự dài” của nhà văn.

Thời gian  của người là loại tiểu thuyết luận đề mới. Tác phẩm chứa đựng nhiều vấn đề chính trị, xã hội, đạo đức. Xoay quanh bốn nhân vật chính - đúng hơn là bốn cuộc đời với những hoạt động thực tiễn và quan niệm sống, ta thấy được mối quan hệ tự nhiên, có ý nghĩa tương tác, ảnh hưởng qua lại của những ý thức, những tư tưởng lớn.

Qua truyện là bốn thân phận khác nhau. Chị Ba Huệ, nữ chỉ huy biệt động giờ là một tỉnh uỷ viên, anh Quân sĩ quan tình báo tầm cỡ chiến lược nay về sống cuộc sống đời thường. Linh mục Vĩnh là một tu sĩ trí thức, cha sở của một xứ đạo. Ông già Hai một đời thăng trầm gắn bó với cây cao su miền Đất đỏ. Cả bốn nhân vật khác biệt và “dữ dội” mỗi người, mỗi vẻ gặp nhau ở một điểm chung: lòng thương người:”Tình thương luôn luôn đem lại những màu nhiệm mà tài năng chỉ có thể ao ước”. Mở rộng ra còn là một nhân sinh quan ”Sống thế nào là biết sống” và một triết lý sống tích cực về con người và lịch sử ,con người trong lịch sử. Âm hưởng chính là khẳng định quá khứ đồng thời với trân trọng hiện tại và hướng tới tương lai.

Một đặc sắc dễ thấy của truyện Nguyễn Khải là đậm đà, thậm chí đậm đặc chất tự truyện. Đó là Một giọt nắng nhạt- truyện vừa, là Thượng đế thì cười - tiểu thuyết và nhiều tác phẩm văn xuôi khác. Có thể đặt tên đó là truyện hồi kí hoặc tiểu thuyết tự truyện.

Thực ra, trong nhiều sáng tác Nguyễn Khải ta đã bắt gặp nhân vật xưng tôi. Một nhân vật tôi nửa là nhân vật hư cấu, nửa là chính nhà văn, tức là có một sự mơ hồ, lẫn lộn  một cách chủ ý. Lối viết này thực ra không hoàn toàn mới trong lịch sử phát triển của văn học trong nước cũng như trên thế giới. Cái đặc sắc của Nguyễn Khải ở chỗ cái tình rất thực, tự bạch cũng là tự kiểm, tự đánh giá qua tự truyện. Kể cả tự giễu- một khuynh hướng đánh giá có màn sắc triết lý mà cũng rất trần đời. Một giọt nắng nhạt kể về quãng tuổi thơ đầu đời_”cái tuổi 15”. Có nhiều nét giống Những ngày

Page 148: Tieu Thuyet Nong Thon

thơ ấu của Nguyên Hồng, lại có cả những khía cạnh như Cỏ dại của Tô Hoài, nhưng có cái vẻ “dữ dội” hơn ở khía cạnh tâm lý. Cái khổ của vật chất cộng cái khổ tinh thần trĩu xuống tâm hồn thơ dại nhưng cũng đủ hiểu biết, thức tỉnh.

Có đủ bức xúc, oan ức, tủi nhục xen lẫn tin tưởng, hi vọng, mơ ước hảo huyền.” Cái sự thật về thân phận” trong nghịch cảnh ”qua mỗi tháng lại tuột ra một lớp vỏ, rút lại cái lõi của nó không đáng một xu”..”bị căm ghét còn khá, bị khinh rẻ mới thật nhục”. Đây là triết lý của thân phận ấy “ Có thể chết được chăng. Không thể chết được. Vậy thì phải sống. Sống bằng cái nhẫn nhục cái chịu thương chịu khó…”.

Thế là,”giọt nắng nhạt” ấy sáng dần lên, ấm dần lên để tự chiếu rọi và sưởi nóng cuộc đời bản thân. Để đến “tuổi bảy mươi lại phải đối mặt với những câu hỏi hết sức vô lí, buồn cười”. Nghĩa là, cái tôi nhà văn thấy mình đang phải trả lời cho một cái nghịch lý của thân phận…”gương mặt sạch” và “mặt mũi lem luốc”, người dám lên mặt thuyết lý về tầm về đạo đức, cả về lý tưởng mà lại “ như thằng hề” tự mình ”cũng vẽ bậy – vẽ bạ lên mặt mình”. Thượng đế thì cười là bản tổng kết một đời viết, tự thuật cũng là tự vấn. Có lẽ đây cũng là một đặc sắc khác của tự truyện Nguyễn Khải: một tự thú để vươn tới một tự do thực sự của sống và sáng tạo với những giá trị đích thực. Nhà văn tự loại bỏ “thứ văn chương giống như đời người mà chưa hẳn là đời người” để tìm thứ văn chương thực sự của “cõi đời” tức cũng của “cõi người”, có thể bay lên “ cõi văn chương” vĩnh cửu.

Kiểu truyện ngắn ”tiểu thuyết hoá” như Đời khổ cũng là một thể nghiệm thành công trong đa dạng hoá của bút pháp văn xuôi Nguyễn Khải trong quan niệm văn xuôi thời hiện đại, truyện ngắn không chỉ là một lát cắt mà có khi cũng là tóm lược một cuộc đời. Chí Phèo của Nam Cao là một thử nghiệm xuất sắc. Đó là truyện ngắn về một thân phận, một kiếp người.

Nhìn chung lại ở hiện tượng xâm lấn- giao thoa giữa ký và truyện, Nguyễn Khải đã thể hiện một tìm tòi và thể nghiệm nhiều giá trị. Đó là sự dồn nén dung lượng của sự kiện đời sống và những vấn đề, tạo ra những hiệu quả thẩm mỹ đa dạng.

·

Hiện tượng biến thể đa dạng là một dạng biến hoá của thể thành các dạng hoặc thể tài khác nhau.

Cũng là truyện ngắn, truyện vừa, truyện dài với tư cách độc lập nhưng chúng lại có những dáng vẻ, màu sắc khác nhau, đem lại những hứng thú như sự thưởng thức phong phú qua sự “chế biến” khéo tay của nhà văn. Xuất hiện cùng trong một thời điểm, một thời kỳ(1963), các truyện Tầm nhìn xa và Người trở về đưa ta về một vùng nông thôn quen thuộc, thậm chí một hợp tác xã nổi tiếng, với ông chủ nhiệm hợp tác xã Đồng Tiến có tên tuổi ở địa phương. Hai chuyện ở những xóm thôn khác nhau, với những con người khác nhau nhưng lại gần gũi, dính dán với nhau vì một nhân vật chủ chốt là Biền. Nhưng quan trọng hơn là cái khung cảnh, cái không khí đời sống hầu như vẫn là một. Ấy còn là cái: tình làng nghĩa xóm của Đông Chấn, của quan hệ cán bộ, nhân dân của Biền, Mão. Hơn hai mươi năm sau, ngót một phần tư thế kỷ. Nguyễn Khải lại đưa chúng ta về vùng quê xưa với những xóm Đông Chấn, xóm Bái Tỉnh, Bình Chính quen thuộc, với những người xưa Khang, Ninh, Phúc, Biền và nhất là Tuy Kiền. Tuy nhiên không còn cảnh cu, đời sống đã khang trang nhiều. Và người xưa cũng đã biến đổi theo những chiều hướng có phần khác nhau, những phận

Page 149: Tieu Thuyet Nong Thon

người thăng trầm theo thế cuộc. Đấy là chuyện kể trong Một thời lãng mạn. Ở đây nhân vật tôi có nhân thân quen thuộc chính là nhà văn Nguyễn Khải.

Với loạt truyện này và nhiều truyện khác tương tự, Nguyễn Khải có chủ định tạo ra một loại truyện liên hoàn có những móc nối, dính dán với nhau về nhân vật, địa điểm, sự việc… Tức là có liên quan về tình tiết dể tạo ra cho ta cái cảm giác quen mà lạ, vừa giống lại vừa khác, có nhiều bất ngờ thú vị. Hơn nữa, còn hấp dẫn ta ở tính thuyết phục cao vì những tình tiết có vẻ hết sức chân thật, mặc dầu vẫn biết rằng có một lề rất rộng rãi cho sự tưởng tượng, hư cấu.

Vào thời chiến (1972), Chiến sĩ xuất hiện mang nhiều mới lạ về bút pháp. Quy mô vượt trội- 300 trang, với kết cấu “lạ” 12 chương. Binh chủng mới và lạ Tăng - Thiết giáp. Câu chuyện có tính chất giật gân: chuyện lưu lạc của một chiến sĩ trên chiến trường qua nhiều đơn vị chiến đấu, lang thang trong rừng hàng tháng trời. Tiểu thuyết có cốt truyện phiêu lưu: “Lại bắt đầu một cuộc “phiêu lưu” rất tình cờ”, lại có kết cấu chương hồi như sáng tác văn xuôi trung đại kiểu Hoàng Lê nhất thống chí.

Chiến sĩ hấp dẫn người đọc ở câu chuyện lý thú về sự xuất hiện của nhiều binh chủng tham gia một chiến dịch lớn: thiết giáp, pháo binh, bộ binh, công binh, quân y, hậu cần, trinh sát. Có chuyện bộ đội ở chiến trường, chuyện các gia đình ở hậu phương, có chuyện người, chuyện ta. Rất nhiều”kiểu” chiến sĩ do những xuất thân khác nhau, nhiều thế hệ cầm súng tụ hội cán bộ lớn tuổi và tân binh trẻ măng. Điều quan trọng là người chiến sĩ được soi sáng từ nhiều phía để thấy được vẻ đẹp khác nhau, trở thành một hình tượng biểu trưng của những anh hung bình thường - vô danh.

Thực ra, Chiến sĩ mang nhiều tìm tòi cách tân. Ngoài giá trị của một cốt truyện phiêu lưu rất hiện đại, ngoài lối kết cấu mang phong vị trung đại vốn chỉ tập trung sự kiện và hành động, tiểu thuyết còn có thêm phong thái dân gian qua lời kể chuyện và phân tích trí tuệ.

Điều tra về một cái chết như đã nêu, là một phóng sự nhưng là “phóng sự điều tra” về “một cái chết”. Tác giả đã điều tra vào “cái chết” của một niềm tin thiêng liêng, sự thất bại của một lý tưởng tôn thờ một đời, đó là chiều sâu triết lý của truyện.

B. TƯƠNG TÁC VĂN HỌC VÀ CẬN VĂN HỌC

Đó là hiện tượng tương tác văn học - hay văn chương nghệ thuật - và báo chí hay văn chương báo chí.

Nguyễn Khải trong đời viết thường “thạo” cả hai tay: viết văn và viết báo. Mỗi cách viết có tính độc lập nhưng lại có những mặt bổ trợ cho nhau.

Đã có nhận xét cho rằng văn Nguyễn Khải là văn “thông tấn” và Nguyễn Khải được gọi là “nhà văn thông tấn” với một ngầm ý chê trách và hạ giá nào đó. Nguyên Ngọc đã phản bác nhận xét ấy: “Anh ta nhầm về chính một điểm đặc sắc nhất tạo nên tầm cao và vẻ riêng của Nguyễn Khải trong văn học hiện đại Việt Nam” (5). Nguyễn Quốc Trung cũng cho rằng “Nhà văn Nguyễn Khải tạo cho mình một giọng văn rất rieng gắn với báo chí nhưng lại rất văn học.” (6)

Page 150: Tieu Thuyet Nong Thon

Quả là chất thông tấn đậm đà trong tác phẩm truyện, ký Nguyễn Khải: những “phóng sự điều tra” về chính trường Sài Gòn một thời, về tôn giáo (Cha và con và… Điều tra về một cái chết, Sư già chùa Thắm và ông đại tá về hưu…)và về chuyện làm ăn kinh tế thời đổi mới, kể cả những mảng” ký sự pháp đình” Trong Một cõi nhân gian bé tí. Đó là nét hiện đại của tiểu thuyết thời đại bùng nổ thông tin. Tư liệu thông tin qua văn chương thông tấn (mà rõ nhất là báo chí) là một đáp ứng cho kênh tiếp nhận của con người ngày nay. Gặp gỡ cuối năm thể hiện sự chiến thắng của chân lí cách mạng trong thế giới tâm hồn của những người phía bên kia, đúng hơn là có thời suy nghĩ tính toán lầm lẫn ở phía chiến tuyến đối lập Những “người thất bại” như Chương, như Quý là có một quá trình thất bại. Quá trình ấy được kể qua những thông tin có giá như những “thông tin mật” trong cuốn sách đen chính trị một thời. Trong Một cõi nhân gian bé tí, Chính công tác ở Viện kiểm sát dẫn ta đến nhiều cuộc thẩm vấn. Có những thẩm vấn về kinh tế, có những thẩm vấn về chính trị với cả” nhiều nhân vật đứng đầu các tổ chức chính trị đối lập với cộng sản, với   chính quyền Cách mạng”. Qua những thông tin đặc biệt đó, người đọc thấy rõ được những tính cách, những tâm trạng trong quá trình tha hoá của con người. Đó là một kênh thông tin có nhiều lý thú trong việc tìm hiểu con người đa sự, đa đoan trong cuộc đời.

Có điều là do khôn ngoan, vững tay nghề, Nguyễn Khải cũng như Tô Hoài, hướng tới sự tương tác tích cực mà không để cho, hoặc rất hiếm khi để cho văn chương cận văn học –báo chí-làm hại cho văn học.

C. TƯƠNG TÁC VĂN HỌC VỚI LOẠI HÌNH KHÁC

Văn học, triết học và khoa học chính trị vốn là các phạm trù khác biệt nhưng lại có mối liên quan trong các diễn ngôn, chủ đề của tác phẩm. Trong quá trình sáng tác, Nguyễn Khải có hai khuynh hướng nổi bật: khuynh hướng chính luận và khuynh hướng triết luận, cũng có thể thấy sự đan xen: khuynh hướng chính – triết luận. Hoặc nói rõ hơn từ chính luận chuyển dần sang triết luận.

Đó là khuynh hướng kết hợp một cách tự nhiên văn học với chính trị và triết học.

Một mặt, Nguyễn Khải là nhà văn có nét phong cách nổi trội là tính nghị luận, trong đó trước hết là chính luận. Là ngòi bút năng động luôn gắn với thời cuộc, Nguyễn Khải luôn xông xáo, năng nổ, bám sát những dấu vết nóng bỏng của sự kiện, những vấn đề mang tính thời sự – chính trị. Ngòi bút Nguyễn Khải chuyển tải nhanh nhạy những vấn đề chính trị của thời thế. Cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ suốt 30 năm được thể hiện qua những trang viết sôi nổi với ánh sáng của lý tưởng chói lọi “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, lý tưởng rực rỡ của lý tưởng anh hùng cách mạng. Chủ nghĩa xã hội từ những tháng năm xây dựng cách mạng đầu tiên đã in dấu đậm nét trên những sáng tác về mảng hiện thực nông thôn từ rất sớm. Lý tưởng mới như một ánh hào quang chiếu rọi tâm hồn con người, kêu gọi Hãy đi xa hơn nữa. Ngay từ đầu tác phẩm viết về đời sống mang một tinh thần chính trị nhân văn cao cả. Đó không phải là thứ chính trị khô khan thuần lý mà là một loại chính trị nhuần nhuyễn vì con người, cho con người. Chủ nghĩa nhân đạo cách mạng và đạo đức mới cách mạng là chủ đề xuyên suốt dòng chảy văn xuôi Nguyễn Khải cho đến cả thời đổi mới văn học. Tinh thần ấy thấm nhuần trên những trang viết dù là ở những miền quê quen thuộc, nơi thành phố miền Bắc hay ở vùng Đồng Tháp Mười xa xôi hoặc giữa đô thành Sài Gòn, ở vùng Cửa Ông Đất mỏ hay trong lòng Hà Nội – Đất kinh kỳ…

Khuynh hướng chính luận thể hiện rõ với những luận đề chính trị và những nhân vật

Page 151: Tieu Thuyet Nong Thon

tư tưởng. Sự gắn bó sâu sắc với đời sống chính trị sẽ đưa tác gia đếnviệc dựng lên một loạt nhân vật đầy ý chí và khát vọng lý tưởng cải biến xã hội. Dĩ nhiên nhân vật mang lý tưởng chính trị mạnh mẽ trở thành nhân vật mang tư tưởng. Nhân vật ấy đòi tự do tranh biện, tự do ngôn luận về tư tưởng. Đó cũng là chân dung nhân vật mang tính vấn đề rõ rệt.

Mặt khác khuynh hướng triết luận thường đề cập những vấn đề triết lý, những nhận thức lý tưởng sống, quan niệm đạo đức, thẩm mỹ… Nhân vật triết lý xuất hiện như một lẽ đương nhiên. Nguyễn Khải không làm triết học nhưng thể hiện những suy nghiệm triết lý sâu sắc, thâm trầm. Có mấy loại nhân vật tiêu biểu. Con người trong thời gian đời người, con ngườii trong dòng chảy lịch sử,va con người trầm tư trải nghiệm lẽ đời.

Có những vấn đề xã hội được nhìn nhận dưới lăng kính triết học. Đó là lý do để có thể nhận xét Cha và con và là: “Triết luận về tôn giáo và chủ nghĩa xã hội bằng “ngôn ngữ tự sự” (Lại Nguyễn Ân) (7). Hai tác giả cùng nhận định qua hai bài “Thời gian của người -  triết lý về cách sống” (8). Huỳnh Như Phương có cùng một nhận định về tiểu thuyết này trong bài viết “Triết luận về thời gian, con người và lịch sử” (9).

Nhiều chủ đề truyện hàm chứa tư tưởng triết học. Sự lựa chọn sẽ dẫn đến con người và quá trình thích ứng; sự giải thoát sẽ có con người tự giải phóng, con người từ bóng tối ra ánh sáng; sự dấn thân sẽ có con người trên hành trình đến tự do, con người “hãy đi xa hơn nữa”. Vậy là triết lý đề xuất (về niềm tin, về hạnh phúc…) sẽ ứng với hình tượng nhân vật được xây dựng.

Nguyễn Khải triết luận một cách tự nhiên với cách nói bình dị mà thâm tuý. Đại loại như nhận xét của Thảo: “Chọn giống thì nhìn bên ngoài có thể biết được, còn chọn người nếu nhìn bên ngoài thì dễ nhầm” (Người trở về). Hoặc tâm sự của Đào qua Mùa lạc: “Sự sống nảy sinh từ cái chết, hạnh phúc hiện hình từ trong những hy sinh, gian khổ, ở đời này không có con đường cùng, chỉ có những ranh giới, điều cốt yếu là phải có sức mạnh để bước qua những ranh giới ấy”. Một ý tưởng tương tự, thâm thuý trong sự giản dị: “Đã là người mở đường tất phải chịu trăm cay nghìn đắng, cực nhọc, chỉ những người có niềm tin thật mới đủ sức mạnh tiếp tục cuộc hành trình. Bao giờ mà chẳng thế” (Thời gian của người).

Nêu vài dẫn chứng trên cũng để nhấn mạnh màu sắc của triết lý trong truyện. Nguyễn Khải thiên về triết lý nhân sinh – câu nói thường có tính chất châm ngôn cuộc sống.

Sự kết hợp tài hoa văn chương và triết học của Nguyễn Khải đưa nhà văn lên tầm văn nhân – triết nhân – nhà văn làm triết lý qua văn chương, bằng ngôn từ nghệ thuật chứ không phải thuật ngữ triết học.

Nguyễn Khải là nhà văn có quan niệm nghệ thuật chính xác, phù hợp với tiến bộ nghệ thuật hiện đại.

Văn xuôi Nguyễn Khải vừa chuẩn mực, vừa biến hoá đa dạng trong mối quan hệ tương tác thể loại văn học trên nhiều trình diện và cấp độ. Nhờ vậy, nhà văn có những đóng góp hiệu quả tích cực cho phát triển thể loại.

Page 152: Tieu Thuyet Nong Thon

Nguyễn Khải đã nêu tấm gương sáng bản lĩnh nghệ thuật giàu sáng tạo một đời chung thuỷ với nghề văn và nghiệp văn.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

(1) Nguyễn Khải. Trả lời phỏng vấn Văn nghệ 16/02/1999

(2) Nguyên Ngọc. Thay lời giới thiệu – Thương nhớ Nguyễn Khải – NXB Hội Nhà Văn –12/2008

(3) Đoàn Trọng Huy. Nguyễn Khải – Văn học Việt Nam 1945-1975. Tập II. NXB Giáo dục, Hà Nội, 1990

(5), (6) Nhiều tác giả - Thương nhớ Nguyễn Khải – NXB Hội Nhà Văn – 12/2008

(4), (7), (8), (9) Nhiều tác giả. Nguyễn Khải – Về tác gia và tác phẩm, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2002

 

Lời giới thiệu:         Trong lãnh vực nghiên cứu văn học ở hải ngoại từ sau năm 1975, bộ Văn Học Miền Nam gồm 7 tập của Võ

Phiến, dù gây nên nhiều tranh cãi sôi nổi và dù mắc một số hạn chế nhất định, vẫn là một trong những thành tựu

lớn nhất. Nó không những giúp người đọc nhận diện một khía cạnh khác trong tài năng của Võ Phiến mà còn cung

cấp cho người đọc một khối tài liệu đồ sộ và đáng tin cậy về một nền văn học ngỡ đã bị quên lãng: văn học Miền

Nam từ năm 1954 đến 1975. Với ý nghĩa như thế, bộ Văn Học Miền Nam của Võ Phiến, đặc biệt tập đầu, “Tổng

quan”, đã được đón nhận nồng nhiệt. Cuốn sách đã được tái bản nhiều lần.

        Theo yêu cầu của nhiều bạn đọc, nhất là những bạn đọc ở xa các trung tâm thương mại của người Việt ở hải

ngoại, và được sự đồng ý của nhà văn Võ Phiến, Tiền Vệ đăng lại cuốn Văn Học Miền Nam: Tổng Quan thành nhiều

kỳ.

        Ngoài Lời nói đầu và Kết luận, cuốn Văn Học Miền Nam: Tổng Quan gồm có ba phần chính:

        I. Khái quát: Trong phần này, Võ Phiến khảo sát một số yếu tố chính trong sinh hoạt văn học miền Nam

như: nhà văn, độc giả, và xuất bản; sau đó, ông lần lượt trình bày các giai đoạn chính và phân tích những đặc

điểm nổi bật nhất; cuối cùng, đối chiếu sơ lược văn học miền Nam với văn học miền Bắc và văn học “tiền chiến”.

        II. Các giai đoạn: Võ Phiến đi sâu vào các đặc điểm nổi bật trong từng giai đoạn: 1954-63 và 1964-75.

        III. Các bộ môn: Võ Phiến phân tích năm bộ môn chính: tiểu thuyết, tuỳ bút, thi ca, kịch và ký. Ở mỗi bộ

môn, ông cố gắng nhận điện những đặc điểm và những thành tựu chính.

 

        Ðể bạn đọc dễ theo dõi, mỗi kỳ chúng tôi sẽ đăng một chương. Nếu có chương quá dài, chúng tôi tách ra làm

hai hay làm ba kỳ.Tiền Vệ

 

Page 153: Tieu Thuyet Nong Thon

VÕ PHIẾN (1925~)

 

VĂN HỌC MIỀN NAM: TỔNG QUAN

 

TIỂU THUYẾT

 

THAY ĐỔI

 

Nghiên cứu về tiểu thuyết Việt Nam trước 1945 kể ra đã có nhiều vị hoàn tất được những công

trình nghiêm chỉnh, đặc biệt là Vũ Ngọc Phan (cuốn thứ 4 và thứ 5 trrong bộ Nhà văn hiện đại)

và Bùi Xuân Bào (trong cuốn Le roman vietnamien contemporain). Cuốn Tiểu thuyết Việt Nam

hiện đại của Phan Cự Đệ có nói đến thời kỳ sau 1945, nhưng lại không đề cập tới Miền Nam.

Biên khảo về tiểu thuyết Miền Nam Việt Nam sau 1954 thì hình như chỉ mới có Cao Huy Khanh.

Trước tháng 4-1975, tác phẩm của ông Cao đã được ấn hành, kể như xong xuôi, tiếc rằng sách

chưa kịp phổ biến thì Sài Gòn thất thủ và rồi sách cũng mất tích luôn. Thật đáng tiếc, vì sách

của ông được soạn thảo tại Sài Gòn, trong hoàn cảnh thuận lợi hơn chúng ta ngày nay rất

nhiều.

 

Tiểu thuyết truyền kỳ, hoạt kê, trinh thám tàn lụi

Nhặt nhạnh đây đó những đoạn chắc là trích từ tác phẩm nói trên, có lần thấy ông Cao nêu lên

một chỗ khác biệt giữa tiểu thuyết Việt Nam tiền chiến và tiểu thuyết Miền Nam từ 1954 đến

1973. Ông bảo: “So với ngày nay, trong mười khuynh hướng do Vũ Ngọc Phan mệnh danh thì

có đến năm khuynh hướng hầu như không còn dùng được nữa đối với việc nghiên cứu ở đây: đó

Page 154: Tieu Thuyet Nong Thon

là những khuynh hướng tiểu thuyết luận đề, tiểu thuyết truyền kỳ, tiểu thuyết phóng sự, tiểu

thuyết hoạt kê, tiểu thuyết trinh thám”.[1]

Trong khi tìm hiểu về một bộ môn văn học tất nhiên ta muốn theo dõi sự phát triển của nó qua

thời gian, muốn biết từ thời kỳ này sang thời thời kỳ khác nó đã diễn biến như thế nào? đã có

nhũng gì mất đi và những gì nẩy thêm trong bộ môn ấy? vì sao? Do đó ý kiến của ông Cao rất

đáng chú ý.

Khi nói có những khuynh hướng “không còn dùng được nữa”, có phải ý ông Cao cho rằng vào

thời kỳ 1954-73 không còn ai viết tiểu thuyết thuộc các khuynh hướng ấy nữa? Nếu thế, nhận

xét của ông nghiệm có chỗ đúng: quả thực truyện truyền kỳ, truyện hoạt kê, truyện trinh thám

không thấy có người viết nữa, sau 1954. Không những tác giả mới không có, mà những tác giả

cũ cũng không buồn tiếp tục: Đái Đức Tuấn không viết truyện truyền kỳ nữa, mà Phạm Cao

Củng có mặt ở Miền Nam ngót hăm mốt năm, cho đến mùa xuân 1975, cũng không buồn viết

truyện trinh thám nữa. Còn như giọng văn dí dỏm thời kỳ sau 1954 không thiếu; thế nhưng

Hoàng Hải Thủy, Lê Tất Điều tuy có đùa giễu bất quá cũng đùa giễu nhẹ nhàng, như Nhất Linh

trong Đi Tây chẳng hạn, chứ không hề có ý viết hẳn ra một tác phẩm nào để nhạo báng

chuyện nọ chuyện kia.

Tại sao vậy? Tại sao tự dưng sau 1954 chúng ta không còn thấy hứng thú trong việc kể những

chuyện ly kỳ rùng rợn ma quái, trong việc bịa ra những mưu mô lắt léo xung quanh các vụ án

mạng, không còn thấy hứng thú trong cái vụ châm biếm chỉ trích trò đời? Mà có thực chúng ta

mất hứng chăng? Hay sự thiếu vắng ấy còn có lý do nào khác?

Theo chỗ tôi nghiệm thấy thì cái không khí tinh thần ở Miền Nam vào những năm tiếp liền cuộc

di cư 1954 quả không thích hợp cho loại truyện truyền kỳ và trinh thám. Cuộc đổi đời đặt Miền

Nam trước một thế cuộc nghiêm trọng: Sau cuộc Cách mạng Mùa Thu 45, sau chín năm kháng

chiến chống Pháp, sau một cuộc chia cắt đất nước, một cuộc di cư hàng triệu người, sau những

biến cố như thế các nhà văn tuổi tác như Đái Đức Tuấn, như Phạm Cao Củng bỏ quê hương đất

Bắc vào đây để mà ngồi vắt óc “sáng tác” ra loại tác phẩm nghệ thuật nói về những ông thần

hổ, những con ma trành, về các ngón mưu mẹo của Kỳ Phát à? Làm như vậy, coi sao được?

Xung quanh họ có ai làm thế đâu? Từ những bậc trí thức đứng tuổi ưu thời mẫn thế cho đến

đám thanh thiếu niên của thời buổi mới đều không ai nghĩ đến chuyện như thế. Lớp lớn dù đã

chán chường ảo não ngay từ lúc nhập vào làng văn như Vũ Hoàng Chương mà bấy giờ cũng ca

bài ca Bình Bắc, huống hồ... Trẻ trung thì... ôi chao, họ toàn tính chuyện lấp bể vá trời. “Riêng

dòng sông Bến Hải thì không những là nạn nhân của một lịch sử chia cắt mà còn là nạn nhân

của những pho thơ, biển nhạc. Quý vị nhạc sĩ, thi sĩ đòi lấp sông Bến Hải thật ồn ào, tưởng

chừng dòng sông bị lấp đến nơi rồi. Tiếp đó, quê hương Miền Nam thanh bình, dựng một mùa

hoa!”[2]

Lúc Duyên Anh viết những lời trên đây, tức mười lăm mười bảy năm sau cuộc di cư 1954, nhớ

về cái thuở trịnh trọng xưa kia, ông thấy sự tin tưởng hăng say có một vẻ gì ngô nghê. Sau này

ai nấy đã vỡ mộng, chỉ còn hăng say... giải trí và yêu đương hết mình thôi. Sau này thần hổ,

Page 155: Tieu Thuyet Nong Thon

ma trành với Kỳ Phát có thể tha hồ kéo nhau xuất hiện lắm. Khốn nỗi, để phục vụ nhu cầu tiêu

khiển lớn lao của giai đoạn sau, thiên hạ lại tổ chức dịch ào ào truyện Tàu truyện Tây: muốn

ghê rợn, quái đản đến đâu, kho sách truyền kỳ của Tàu sách trinh thám gián điệp của Tây cũng

cung ứng đủ, hà tất phải khổ tâm tưởng tượng, suy nghĩ, mằn mò sáng tác cho nhọc nhằn.

Còn như cuời giễu các hủ tục để sửa đổi xã hội thì từ lâu đã không còn là bận tâm của người

cầm bút nữa. Xung đột cũ mới không còn là một đề tài nữa. Cái cũ nó đã ngã khuỵu từ lâu, nó

yên một bề rồi, nó không còn sức chống chế nữa, giễu nó mà chi? Bây giờ, thời buổi cách

mạng, đối với cái xấu người xấu — tham nhũng, gia nô, độc tài v.v... — người ta thẳng cánh

phang cho nó những bài “phim” trên nhật báo, đọc mà nhức óc; cần gì phải dùng đến tác

phẩm nghệ thuật để giễu cợt? Từ Cách mạng Mùa Thu 1945 về sau, khắp cả Bắc Nam không

thấy có ai tiếp tục con đường của Đồ Phồn nữa. Người ta dẹp hủ tục, dẹp cái lạc hậu, không

cần nhạo báng nó. Cao Huy Khanh có lý: một số khuynh hướng tiểu thuyết thời tiền chiến

không còn tồn tại sau 1954 ở Miền Nam.

 

Tiểu thuyết luận đề phát triển

Tuy nhiên về các loại tiểu thuyết phóng sự và tiểu thuyết luận đề thì tôi không nghĩ chúng đã

bị đào thải. Có một độ Hoàng Hải Thủy viết một loại truyện đăng trên nhật báo Ngôn Luận, và

chính tác giả gọi đó là tiểu thuyết phóng sự. Hoặc giả ông Cao không đồng ý với lối mệnh danh

ấy chăng?

Nhưng đặc biệt là khuynh hướng tiểu thuyết luận đề, tôi không thấy nó tỏ dấu hiệu tàn lụi nào.

Trái lại.

Hồi tiền chiến Vũ Ngọc Phan chỉ mới thấy có hai cây bút viết luận đề tiểu thuyết là Nhất Linh và

Hoàng Đạo. Sau 1954, số tiểu thuyết gia chọn khuynh hướng ấy đông đảo hơn nhiều. Như thế

là phải. Bởi vì sau Genève ở Miền Nam là một thời kỳ của biện luận, của nhu cầu tìm lẽ phải,

của sự khao khát triết học, lý luận. Như thể ai nấy luôn luôn phải biện minh cho một cái gì, phải

đánh ngã một cái gì. Hoặc tố cáo chế độ cộng sản, chống phá lý thuyết cộng sản, hoặc biện

minh cho học thuyết nhân vị, cho một nhận định hiện sinh, cho thiền học, cho dân chủ, cho vai

trò của giai cấp tiểu tư sản v.v..., nhiều cuốn truyện của Nguyễn Mạnh Côn, Thanh Tâm Tuyền,

của Nhất Hạnh, Hồ Hữu Tường, của Vũ Khắc Khoan... đều có luận đề. Pho trường thiên tiểu

thuyết Khu rừng lau của Doãn Quốc Sỹ cũng nhằm vào một dụng ý biện minh cho một quan

niệm sống rõ rệt.

Luận đề tiểu thuyết là cái sở trường một thời của Nhất Linh. Sau 1954, ông Nhất Linh ấy thấy

ra chỗ lầm lẫn của mình, ông suy tìm then chốt của sự thành công trong tiểu thuyết, ông viết

sách công bố để ai nấy biết. Mặc kệ! Mặc cho cái bí quyết thành công của Nhất Linh. Thế hệ

tiểu thuyết gia sau 1954 ở Miền Nam không cần thành công, chỉ cần “nói lên” một cái gì. “Nói

lên”, “sứ mệnh văn nghệ” v.v... là những danh từ thời thượng lúc bấy giờ.

Page 156: Tieu Thuyet Nong Thon

Các ông Phạm Văn Sĩ [3], Nguyễn Khắc Ngữ[4] đều có nói đến tiểu thuyết hiện sinh ở Miền Nam.

Thứ tiểu thuyết gọi là hiện sinh ấy hình như ở đâu nó cũng ham “nói lên” lý thuyết cao xa.

Germaine Brée và Edouard Morot-Sir cho rằng ở Pháp vào khoảng sau 1950 có những tiểu

thuyết gia muốn nối tiếp một khuynh hướng xuất hiện từ hồi 1910 chính là vì cái tâm lý chống

lại những quan tâm giáo dục và siêu hình của thứ tiểu thuyết “hiện sinh” ấy.[5]

Ở ta, sau 1954, chẳng những có khuynh hướng giảng giải của triết lý hiện sinh lại có cái chủ

tâm đánh đổ chủ nghĩa cộng sản, lẽ đâu thiếu tiểu thuyết luận đề? Dù sao, chúng ta chỉ bắt

gặp một đoạn văn của Cao Huy Khanh, không thể biết thực sự ông muốn nói gì, nên vừa rồi

chủ ý không phải là bắt bẻ ông Cao. Chẳng qua nhân một nhận xét của ông để nói về đôi ba

đặc điểm của tiểu thuyết Miền Nam thời 1954-75 so với tiểu thuyết tiền chiến mà thôi.

Còn ông Bùi Xuân Bào, ông trách Vũ Ngọc Phan đã gác qua một bên hai loại tiểu thuyết phát

triển quan trọng lúc bấy giờ là tiểu thuyết lịch sử và tiểu thuyết đường rừng[6].

Thực ra ông Vũ không quên loại tiểu thuyết đường rừng của Lan Khai và Thế Lữ, ông cũng gọi

đúng cái tên “đường rừng”[7] ấy hẳn hoi; tuy nhiên khi xếp khuynh hướng thì ông Vũ xếp chung

truyện đường rừng cùng với truyện thần quái vào khuynh hướng truyền kỳ. (Khuynh hướng ấy

sang thời kỳ sau (1954-75) chẳng những không còn “phát triển quan trọng” mà lại gặp bế tắc.)

Tiểu thuyết lịch sử, ông Vũ cũng không bỏ sót. Nói về Lan Khai (ở trang 964 đã dẫn), ông nhận

rằng Lan Khai có viết lịch sử tiểu thuyết. (Phan Trần Chúc với Nguyễn Triệu Luật thì Vũ Ngọc

Phan bảo họ không hề viết tiểu thuyết, họ viết truyện ký.)

 

Tiểu thuyết lịch sử biến thể

Nhưng vấn đề không phải ở chỗ ông Vũ thiếu hay ông Bùi sai. Vấn đề là loại tiểu thuyết lịch sử.

Lại một loại tiểu thuyết nữa phát triển quan trọng hồi tiền chiến mà sau 1954 lại lâm cảnh suy

đồi. Thực vậy, suốt thời kỳ này, hình như chỉ thấy Hoài Điệp Thứ Lang viết Kỳ nữ gò Ôn Khâu

(1961); sau đó không ai viết theo mà chính ông cũng không tiếp tục loại sáng tác ấy nữa. Sao

vậy? Có gì xảy ra khiến cho lịch sử nước nhà không còn hấp dẫn được thế hệ sau 1954?

Tôi ngờ rằng không hẳn thế. Không hẳn có chuyện thế hệ sau hờ hững với lịch sử. Chỉ có

chuyện mỗi thế hệ chú ý đến một thời kỳ lịch sử khác nhau. Hồi tiền chiến hầu hết các tác giả

viết về lịch sử (hoặc tiểu thuyết hoặc truyện ký) đều xúm nhau khai thác giai đoạn Lê mạt

Nguyễn sơ. Phải chăng vì đó là một thời tương đối gần gũi, còn gây nhiều xúc động trong lòng

người? hay vì đó là một thời mà sử học cung cấp được nhiều tài liệu hơn cả? Thế nhưng sau

Cách mạng Mùa Thu 45 họ Lê hay họ Mạc hay họ Nguyễn đều vụt trở nên quá xa xôi. Thế hệ

này tha thiết đến một cái lịch sử gần hơn, sôi động hơn, mà chứng liệu lại khỏi phải tìm tòi

trong sách vở: cái lịch sử dân tộc từ cuối thời Pháp thuộc về sau. Có phải vì vậy mà vào thời kỳ

văn học 1954-75 có bao nhiêu là tác giả muốn viết những bộ trường thiên tiểu thuyết về giai

Page 157: Tieu Thuyet Nong Thon

đoạn lịch sử này? Trường thiên tiểu thuyết hóa thành một cám dỗ. Đại khái bấy giờ có chừng

sáu bộ nổi tiếng, có bộ đã hoàn tất, có bộ còn lở dở, trong đó bốn bộ liên quan đến đề tài vừa

nói: Giòng sông Thanh Thủy (3 cuốn) của Nhất Linh đề cập tới những hoạt động tiền khởi nghĩa

bên Tàu, Khu rừng lau (5 cuốn) của Doãn Quốc Sỹ, Vẻ buồn tỉnh lỵ (6 cuốn) của Duyên Anh, và

bộ ba Hoa bươm bướm, Như cánh chim bay, Tiếng ca lặng lẽ (chưa in) của Võ Hồng là từ Cách

mạng Mùa Thu về sau. Ngoài ra, Bình Nguyên Lộc cũng có một bộ trường thiên tiểu thuyết bắt

đầu từ 1942, tức bộ Phù sa, chưa hoàn tất, nói về chuyện mở đất của miền quê ông, cũng là

một thứ lịch sử. (Bộ thứ sáu, Xóm Cầu Mới của Nhất Linh là tâm lý tiểu thuyết, không liên quan

đến các sự kiện lịch sử.) Khi người ta đã quá tha thiết, quá xem là quan trọng một thời kỳ nào

đó, thì chắc chắn không còn mấy hứng thú mằn mò chuyện cũ các thời khác. Sau 1945 kẻ lên

voi người xuống chó, kẻ chợt thấy ánh sáng chói lòa người nhìn ra địa ngục tối om om, kẻ hồ

hởi người lợm giọng, tất cả đều để hết tâm hồn vào hiện tại. Thế hệ sau 1945 bị hiện tại thu

hút đến mê mẩn tinh thần, họ say mê hiện tại, bám dính lấy hiện tại, không thiết dựng lại dĩ

vãng: chuyện tẩn mẩn ấy bấy giờ không phải là lúc nghĩ đến . Có lẽ thế chăng? Tuy vậy, tôi

không hề bảo rằng những pho truyện vừa kể trên đây cũng là một thứ lịch sử tiểu thuyết về

thời hiện đại. Cùng viết về một đề tài, mỗi tác giả nhằm một chủ đích khác nhau.

Nhất Linh chẳng hạn. Trong Giòng sông Thanh Thủy ông theo dõi từng nhân vật, nhẩn nha với

một mối tình, phân tích tâm lý, tìm hiểu động cơ tham gia và thái độ hoạt động của mỗi đảng

viên cách mạng, động cơ nhiều lúc chẳng ăn nhằm gì với lòng yêu nước. Cái chính yếu ở đây là

tâm lý. Nhất Linh hậu chiến trước hết là một tiểu thuyết gia thuộc khuynh hướng tâm lý, bất

luận ông viết về đề tài gì.

Còn Doãn Quốc Sỹ, ông làm chúng ta nghĩ đến một nhân vật của ông: Khiết. Khiết “kiên trì

theo con đường văn hóa”, nhưng “đã trót đi vào con đường chính trị, biết những ngõ ngách của

nó, âu cũng thành nghiệp chướng của mình, khó bỏ lắm.”[8] Khu rừng lau phơi bày cái hiểm ác

của chế độ này, lột trần nền độc tài nọ. Thái độ chính trị của tác giả luôn luôn hiển lộ trong tác

phẩm. Tuy vậy, ông Doãn cũng như Khiết, trước sau “kiên trì theo con đường văn hóa”: Ông

chê cái này chống cái nọ vì nó xấu nó ác. Mà ông thì nhất tâm phục vụ cái thiện cái mỹ. Thiện

tâm thiện ý của tác giả tỏa ra khắp tác phẩm: trong các truyện của ông Doãn nhân vật nào

cũng tốt, việc gì cũng có khía cạnh hay. Ông bất lực không tạo nổi người xấu, kể nổi việc xấu.

Đọc sách ông, thơm tho cả tâm hồn. Truyện ông Doãn vừa có luận đề chính trị vừa có chủ tâm

giáo dục.

Còn Võ Hồng, điều làm ông lo lắng đó là cái tinh thần của lớp trẻ sau này, của các thế hệ đàn

em. Ông than thở với Nguyễn Nam Anh: “Nếu tôi không mô tả một người đàn bà bưng rổ đi chợ

chẳng hạn thì ông nghĩ xem người thanh niên hôm nay có thể tưởng tượng ra được không? Bây

giờ ở nông thôn chị nông dân nào đi chợ cũng xách giỏ bằng nhựa.” Nguyên một cái rổ đã thế,

huống chi bao nhiêu là chuyện khác trong cuộc sống cũ đang mất đi nhanh chóng: “Thế hệ của

chúng tôi bị chiến tranh tàn phá quá nhiều, một số lớn đã chết, những nếp sống cũ lần lần bị

xóa đi, thay thế bằng nếp sống mới. Tôi nghĩ rằng nếu tôi dâng trọn cả cuộc đời của tôi để

dựng lại cái Dĩ vãng đó cũng vẫn còn chưa đủ.” “Vậy viết về những kỷ niệm Dĩ vãng tôi nhằm

Page 158: Tieu Thuyet Nong Thon

vào việc lấp một cái hố trống. Tôi muốn các thế hệ đàn em có dịp để thiết tha gắn bó với quê

hương hơn.”[9] Rõ ràng việc ông làm nhằm mục đích giáo dục; đó là sứ mệnh văn nghệ của ông.

Đến như Duyên Anh thì đừng hỏi ông lo lắng gì, ông “dâng trọn cuộc đời” cho cái gì. Đã có lần

ông la lối Nguyễn Nam Anh om sòm: “Tôi đã thưa với ông rằng tôi không lấy làm quan trọng

lắm sự viết lách của mình, cũng chẳng tự làm bộ quan trọng.” Viết về nỗi khổ cực của dân

nghèo, ông có viết; viết để dạy dỗ thiếu nhi, ông có viết. Nhưng bảo ông là nhà văn thuộc

khuynh hướng giáo dục hay khuynh hướng xã hội, ông cự nự ngay: “Tại sao người ta lại mất

công cân nhắc nhỉ? Tôi không phải là nhà văn của tuổi thơ, của tuổi trẻ hay xã hội, ái tình,

phiêu lưu chi hết. Tôi là người viết tiểu thuyết. Và trong bất cứ tiểu thuyết nào tôi cũng chỉ ca

ngợi Tình Người. Tôi không dấn thân, chẳng viễn mơ.” “Tôi không đeo đuổi hẳn một khuynh

hướng nào. Độc giả cũng không thích đọc mãi một tác giả chỉ viết một loại.” Có điều đáng chú

ý là ông hay nói đến sở thích của độc giả: “Độc giả thèm những cơn gió đồng nội, thèm đọc

văn chương giản dị, tươi mát cơ.” “Tôi viết như tôi nghĩ, tôi nói, tôi thở, tôi sống. Rất dễ dàng.

Người đọc, đọc tôi cũng dễ dàng như tôi viết.” “Người đọc tiểu thuyết chỉ đòi hỏi nhà văn có

làm họ rung động không. Nếu làm độc giả đọc mình rung động thì y đã đạt nổi nghệ thuật viết

tiểu thuyết của y.”[10] Như thế chủ tâm của Duyên Anh là viết được truyện hay, truyện gây thích

thú thoải mái cho độc giả. Đừng táy máy gán cho ông ý đồ nọ kia, làm ông giận. Bộ trường

thiên tiểu thuyết sáu cuốn của ông chắc cũng không ra ngoài con đường chung.

Bình Nguyên Lộc trái lại, xem Phù Sa vừa là cái “mộng lớn thiết tha mà mình cần thực hiện

trong đời văn, lại vừa là một món ‘nợ’ tinh thần mà mình cần phải trả.” Ông bắt tay viết truyện

ấy từ 1942, hơn hai mươi năm sau nói chuyện với Ngu Í ông vẫn còn thiết tha. Quê hương miền

Nam là đề tài chủ yếu của ông, lúc nào cũng ám ảnh tâm trí ông: bút hiệu ông đặt (Bình

Nguyên Lộc) có nghĩa là con Nai ở Đồng, nhà xuất bản của ông có tên Bến Nghé, công trình

sưu khảo đầu tiên của ông mang tên Thổ ngơi Đồng Nai, bộ truyện một đời của ông lấy tên Phù

sa. Sự nghiệp trước tác một đời của ông không ra ngoài chuyện sinh hoạt chuyện phong tục

một địa phương.

Tóm lại, chúng ta ghi nhận thêm một vài sự kiện: thời kỳ 1954-75 mặc dù là một thời kỳ xao

động, bận rộn, hối hả, trong bộ môn tiểu thuyết lại có nhiều công trình dài hơi hơn các thời

trước, có nhiều bộ trường thiên tiểu thuyết hơn cả. Những bộ truyện ấy đều viết về những biến

cố quan trọng xảy ra trên đất nước trong quãng thời gian trước sau cuộc cách mạng 1945. Mặc

dù cùng một đề tài, các bộ truyện ấy nhằm những dụng ý, thuộc những khuynh hướng khác

nhau, còn khuynh hướng lịch sử tiểu thuyết thì quả bị hờ hững ở Miền Nam sau 1954.

 

TIẾN HÓA

 

Freud và việc đào sâu tiềm thức

Page 159: Tieu Thuyet Nong Thon

Về một phương diện khác, người ta có thể nhận thấy nhờ những tiến bộ đạt được trên các địa

hạt triết học, khoa học, văn học v.v...ở các nước Tây phương, mà nhà văn ở ta thuộc thời kỳ

sau cũng có điều kiện để đẩy sự sáng tác của mình tiến lên một mực cao hơn trước.

Chẳng hạn trên con đường tìm hiểu tâm hồn con người, những kiến thức về học thuyết Freud

càng ngày càng phổ biến đã giúp tâm lý tiểu thuyết sau 1954 ở ta thêm nhiều khám phá hơn

hồi tiền chiến. Ngay ở cùng một tác giả — Nhất Linh — cũng có những tiến bộ rõ rệt. Trong

vòng ba mươi năm sáng tác, Nhất Linh tạo ra những nhân vật, nhất là những thiếu nữ, có tâm

lý càng ngày càng tinh tế phức tạp, phức tạp hơn cả chắc chắn là cô Mùi trong Xóm Cầu Mới.

Những nhân vật sau 1954 của Nhất Linh hầu hết là những cô gái bình dân ít học, có cô lại còn

thuộc thành phần nghèo khó tôi đòi, nhưng các mối tình của họ diễn ra dưới những dạng thái

hết sức phong phú, phong phú hơn mọi mối tình tiền chiến trong tiểu thuyết ông.

Những khám phá về bản năng tình dục, về tiềm thức, về các ẩn ức, mặc cảm, về dục tình thuở

ấu thời v.v... đã làm cho tình yêu trong tiểu thuyết của Nhất Linh hậu chiến, của Chu Tử,

Nguyễn Thị Hoàng, Lệ Hằng, Nhã Ca... có những khía cạnh bất ngờ sâu sắc: một câu nghe như

ngây ngô của một cô bé nói với người bạn của cha mình, sự đụng chạm giữa hai đứa trẻ bà con

với nhau trong một trò chơi hồi nhỏ, tự dưng sống dậy và gây nên mối tình say đắm chín mười

năm sau; mối tình ngấm ngầm phát sinh giữa những kẻ tưởng như vẫn thù ghét nhau; những

chàng thanh niên bị thu hút do những người yêu có một khía cạnh tâm hồn của mẹ mình v.v...

Trong dư luận có thể có những bận tâm về phương diện đạo đức của những tác phẩm ấy;

nhưng trong tham vọng truy tầm phát hiện những bí ẩn của lòng người, các tiểu thuyết gia

thuộc khuynh hướng tâm lý của thời kỳ này rõ ràng đi có xa hơn trước.

 

Tiểu-thuyết-mới

Và về mặt kỹ thuật, phong trào tiểu-thuyết-mới của Pháp cũng tiếp tay đắc lực một số nhà văn

Miền Nam.

Cho đến 1945, các tiểu thuyết gia Việt Nam dù viết loại truyện nào, dù theo khuynh hướng

nào, vẫn diễn đạt trong khuôn khổ truyền thống Tây phương. Không mấy ai tính chuyện vượt ra

ngoài mẫu mực của những Balzac, Tolstoi, Dostoievski v.v..., mẫu mực đã thành hình từ thế kỷ

trước. Sau Thế chiến thứ hai, có những cố gắng táo bạo để phá vỡ cái truyền thống ấy, mở một

chân trời mới cho tiểu thuyết, đem đến cho bộ môn này những khả năng mới.

Hoặc trước kia người ta vẫn kể truyện theo sự diễn tiến của câu chuyện, theo thứ tự thời gian;

sau này người ta đảo lộn diễn tiến của cốt truyện, xáo trộn thứ tự thời gian (briser the récit

linéaire et chronologique). Hoặc trước kia vẫn dùng ngôi thứ ba, kể truyện trong tư cách một

người đứng bên ngoài, bên trên các nhân vật, sau này có kẻ làm như hòa đồng với nhân vật,

chuyển thẳng vào tác phẩm những ý tưởng âm thầm, chưa thành lời của nhân vật, chuyển

những cái ấy dưới hình thức độc thoại nội tâm (monologue intérieur). Hoặc trước câu chuyện

Page 160: Tieu Thuyet Nong Thon

thuật lại như thể được nhìn từ một quan điểm duy nhất; sau này có những truyện được nhìn từ

nhiều quan điểm khác nhau, cùng một sự việc dưới cái nhìn của nhân vật này khác hẳn dưới

cái nhìn của nhân vật khác; thuật truyện như thế tác giả làm như lật qua lật lại câu chuyện, hết

xem bên này lại xem phía bên kia, làm cho sự thực hiện ra toàn vẹn hơn (multiplier les points

de vue à l’intérieur du récit). Hoặc giả trước kia thường thường trong mọi thiên truyện chỉ dùng

một lối thuật sự mà thôi; sau này người ta có thể sử dụng nhiều lối khác nhau, ghép lại: một

mẩu tin tức truyền thanh bên cạnh một câu chuyện do hành khách trao đổi với nhau trên xe

buýt, bên cạnh một bài báo, một đoạn truyện truyền thống v.v... ( juxtaposer des modes

narratifs divers). Hoặc giả trước kia người ta vẫn kết cấu thiên tiểu thuyết bằng cách trình bày

diễn tiến các tình tiết của một cốt truyện; sau này có kẻ loại bỏ vai trò của cốt truyện, tìm

những mô thức kết cấu khác hơn là dõi theo diễn tiến cốt truyện (des schémas de structuration

autre que le développement de l’intrigue) v.v...

Một số sáng tác của Võ Phiến vào giai đoạn sau như ‘Cái còn lại’, ‘Đọc sách’ (trong cuốn Ảo

ảnh), ‘Một ngày để tùy nghi’ (trong cuốn Phù thế)..., có thể bảo là truyện, cũng có thể bảo

không xem là truyện được. Giống như tiểu thuyết, nó có một số nhân vật, có những suy tầm và

phát giác về tâm hồn con người, về cuộc đời. Nhưng nó lại không có cốt truyện, không có diễn

biến tình tiết gì. Nó không có cái kết cấu của một câu chuyện; lại phảng phất cái thi vị của thơ

tản văn. Cái kết cấu chú trọng đến một tiết điệu hài hòa, đến bầu không khí chung, hơn là đến

tình tiết sự việc trong câu chuyện. (Ngay những tác phẩm ra đời sớm hơn như ‘Lại thư nhà’,

‘Ngày xuân êm đềm’ (trong cuốn Thư nhà) cũng đã xa dần cốt cách của loại truyện truyền

thống.)

Sau 1964 một số tác giả lớp trẻ cũng đem ra thí nghiệm các quan niệm tiểu-thuyết-mới: Huỳnh

Phan Anh, Nguyễn Quốc Trụ, Nguyễn Đông Ngạc v.v... Sử dụng các kỹ thuật mới sớm nhất có

lẽ là Dương Nghiễm Mậu. Trong cuốn truyện dài Con sâu chẳng hạn, “tôi” không hẳn là một

nhân vật nào, khi là nhân vật này khi lại là nhân vật nọ; sự chuyển vị xảy ra thoăn thoắt làm

nổi bật sự thay đổi đột ngột những quan điểm nhìn sự việc khác nhau. Dương Nghiễm Mậu lại

có cái hay là mặc dù sử dụng kỹ thuật Tây phương ông vẫn giữ được cốt cách dân tộc: đọc ông

người ta không hề cảm thấy dấu vết ảnh hưởng ngoại lai, người đọc bất cứ ở trình độ nào cũng

thấy thoải mái, thấy một bầu không khí quen thuộc.

Tiểu-thuyết-mới ở Pháp là một phong trào khá ngắn ngủi, số tác giả tham gia không nhiều, ảnh

hưởng trong quần chúng không sâu rộng. Như thế, nếu nó không thay đổi được gì lớn lao trong

tình hình tiểu thuyết ở ta, điều ấy không đáng lấy làm lạ. Dù sao, nó cũng đã góp thêm một số

kỹ thuật, nó đã làm cho các nhà văn sau này có quan niệm khoáng đạt hơn về tiểu thuyết. Tiếp

xúc với một số sáng tác từ thập niên 60 về sau, thường bắt gặp những lối kết cấu phóng

khoáng, đa dạng, cởi mở hơn trước.

 

PHÂN LOẠI

Page 161: Tieu Thuyet Nong Thon

 

Tiểu thuyết thời kỳ 54-75 ở Miền Nam có mấy loại, có bao nhiêu khuynh hướng? Tình hình đại

khái có giống với hồi tiền chiến chăng, hay đã hoàn toàn đổi khác? Có người bảo rằng phải

dùng một cách phân loại khác hẳn mới theo kịp cái phức tạp của thời này; có người lại chỉ chia

ra vài loại, đơn giản đến cùng.

Chúng tôi khbông đi sâu vào vấn đề, không sắp xếp vị trí từng tiểu thuyết gia vào từng dòng,

từng loại, từng khuynh hướng. Tuy vậy tưởng cũng nên có một cái nhìn khái quát để xem trên

con đường phát triển về phương diện này, tiểu thuyết nó đi về đâu? có liên quan như thế nào

với quá khứ?

Từ ngày chúng ta bắt đầu viết tiểu thuyết theo quan niệm Tây phương, đã có nhiều cách phân

loại về bộ môn này.

Thoạt tiên, ở một thời kỳ mà tiểu thuyết Việt Nam chưa kịp phát triển, Dương Quảng Hàm chỉ

thấy có bốn khuynh hướng:

1. Khuynh hướng về học thuật — 2. Khuynh hướng lãng mạn — 3. Khuynh hướng xã hội — 4.

Khuynh hướng tả thực[11].

Sau đó, Vũ Ngọc Phan, gần đến giai đoạn phát triển cuối cùng của tiểu thuyết Việt thời tiền

chiến, đã phân chia tiểu thuyết làm mười loại:

1. Tiểu thuyết phong tục — 2. Tiểu thuyết luận đề — 3. Tiểu thuyết luân lý — 4. Tiểu thuyết

truyền kỳ — 5. Tiểu thuyết phóng sự — 6. Tiểu thuyết hoạt kê — 7. Tiểu thuyết tả chân — 8.

Tiểu thuyết xã hội — 9. Tiểu thuyết tình cảm — 10. Tiểu thuyết trinh thám[12].

Đến năm 1972, Doãn Quốc Sỹ cũng đưa ra một bản phân loại mười khuynh hướng nữa, có đôi

chỗ khác với bản Vũ Ngọc Phan, nhưng sự khác biệt không lấy gì làm quan trọng[13].

Cũng trong năm 1972, Bùi Xuân Bào cho xuất bản một tác phẩm bằng Pháp văn, nghiên cứu

về tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, tức cuốn Le roman vietnamien contemporain (1925-1945) [14].

Cách phân loại trong tác phẩm của ông Bùi biệt hẳn ra một lối. Xét riêng về sự phát triển của

tiểu thuyết Việt Nam trong thời toàn thịnh tiền chiến, từ 1932 đến 1945, ông chia ra làm hai

giai đoạn, trong mỗi giai đoạn ông thấy có hai dòng: một dòng hiện thực (gồm những loại tiểu

thuyết phong tục, tiểu thuyết xã hội), và một dòng nữa hoặc có tính cách lãng mạn (gồm

những loại truyện tình yêu lý tưởng, truyện người hùng, tiểu thuyết ấn tượng v.v...), hoặc gồm

những loại tiểu thuyết tình cảm, tiểu thuyết hoài cổ, tiểu thuyết tâm lý.

Trong cách phân loại của ông Bùi, cái dòng quan trọng hơn các loại. Theo quan niệm của ông

thì giữa những truyện đường rừng, truyện ma quái của Tchya, Lan Khai, truyện nguời hùng của

Lê Văn Trương, với loại truyện luận đề của Nhất Linh có một điểm chung khiến chúng gần gũi

Page 162: Tieu Thuyet Nong Thon

nhau, đó là cái tính lãng mạn. Ở đây không phải chỉ có sự sắp xếp, liệt kê các loại, các khuynh

hướng tiểu thuyết; mà còn có một cố gắng giải thích lý do phát triển của mỗi dòng mỗi khuynh

hướng trong từng giai đoạn, căn cứ trên tình hình xã hội, kinh tế...

Ngoài ra, hồi tiền chiến còn có cách phân loại của Nguyễn Xuân Huy trong cuốn Viết và sống:

Tìm nghĩa văn học [15]. Theo ông Nguyễn Xuân Huy này thì có hai hạng văn sĩ, hai thứ văn học:

Một là văn học phản tiến hóa, gồm:

a. Những tác phẩm phản ảnh tinh thần thỏa mãn với hiện tại.

b. Những tác phẩm phản ảnh tinh thần trốn hiện tại.

c. Những tác phẩm phản ảnh tinh thần hoài cổ.

Hai là văn học lợi tiến hóa, gồm:

a. Những tác phẩm phản ảnh tinh thần bất bình với hiện tại.

b. Những tác phẩm phản ảnh tinh thần dám nhìn thẳng vào thực tại.

c. Những tác phẩm phản tinh thần nhìn về tương lai.[16]

Người ta thấy ngay đó là quan điểm của một tác giả cộng sản. Ông Bùi nhận xét: “hẹp hòi một

cách lạ lùng” (étonnament étroite).

Ba mươi năm sau, một tác giả cộng sản khác phân chia “một cách rạch ròi” làm ba khuynh

hướng: một là tiểu thuyết lãng mạn, hai là tiểu thuyết hiện thực phê phán, ba là những thứ...

táp nham (như tiểu thuyết người hùng của Lê Văn Trương, tiểu thuyết của nhóm trốt-kýt Hàn

Thuyên, tiểu thuyết khiêu dâm, kiếm hiệp, trinh thám v.v...)[17]

Về văn học Miền Nam sau 1954, một tác giả cộng sản khác là ông Phạm Văn Sĩ, trong phần

phụ lục cuốn Văn học giải phóng Miền Nam cũng thấy có hai thứ văn học: một thứ phản động

gồm có văn chương chống cộng, văn chương nhân vị duy linh và văn chương hiện sinh; một thứ

tiến bộ gồm có văn chương hiện thực phê phán, và văn chương yêu nước và cách mạng. Dàn ra

như thế, nhưng dẫn chứng thì qua quít sơ sài. Đại khái, các ông Nguyễn Xuân Huy, Phan Cự Đệ,

Phạm Văn Sĩ, không khác nhau: vẫn một mực đứng trên lập trường chính trị chia văn học ra hai

thứ chính tà minh bạch. Chúng ta không cần lặp lại lời nhận xét của ông Bùi Xuân Bào trên

đây.

Còn ông Cao Huy Khanh, người đã dành ra cả một cuốn sách nghiên cứu về tiểu thuyết Miền

Nam trong khoảng thời gian 1954-73, thì cho rằng không thể dùng cách phân loại Vũ Ngọc

Phan vào tiểu thuyết Miền Nam sau này, bởi vì quan niệm ấy “chỉ áp dụng được đối với những

thời kỳ văn học có nếp sinh hoạt tương đối giản dị, còn riêng đối với những thời kỳ văn học

Page 163: Tieu Thuyet Nong Thon

phức tạp (đôi khi phức tạp quá đến chỗ hỗn độn) như thời Hiện đại thì không thể dùng được

một cách có ích lợi.”[18].

Chúng ta không có được tác phẩm của ông Cao, không biết được ông phân loại như thế nào.

Mỗi người có thể có một cách phân loại riêng. Dĩ nhiên cũng có cách hay cách dở, nhưng mỗi

cách được nghĩ ra là tùy theo quan niệm văn nghệ từng người, tùy theo mục đích biên soạn

từng tác phẩm, cho nên xin khỏi đi sâu vào các ưu khuyết dị biệt làm gì. Chỉ xin ghi nhận rằng,

(bỏ qua nhận định hẹp hòi và thiên lệch của cộng sản sang một bên), nhìn chung, từ thời

Dương Quảng Hàm đến nay riêng một bộ môn tiểu thuyết đã phát triển thật xa, càng ngày

càng phân chia ra làm nhiều khuynh hướng, nhiều loại. Dương Quảng Hàm chỉ thấy có bốn

khuynh hướng, đến Vũ Ngọc Phan đã phải xếp vào mười loại khác nhau, thế mà về sau Cao

Huy Khanh còn cho là thời 54-75 văn học phức tạp hơn nhiều nữa.

Xu hướng phát triển từ giản đơn đến phức tạp là thuận lẽ tự nhiên; mặc dù sau 1954 có một số

khuynh hướng tiểu thuyết tiền chiến mất đi nhưng chắc chắn có một số khác lại xuất hiện

thêm, chúng tôi tin lời ông Cao về câu chuyện phức tạp. Duy ta có thể phân vân tự hỏi: Cái

phức tạp nọ phải chăng đã tới độ thay đổi tận căn bản tình hình văn nghệ sau 1954 đến nỗi

sau này không còn dùng được cách phân chia khuynh hướng trước kia?

Theo chỗ tôi nhận thấy, môn loại và khuynh hướng có thêm có bớt, nhưng trên đại thể không

có sự xáo trộn quá đáng. Chúng ta không dứt lìa quá khứ. Những tác giả như Nhật Tiến,

Nguyễn Thị Vinh, Phan Du, Linh Bảo, Võ Hồng v.v... rất được độc giả lớp sau hoan nghênh mà

vẫn viết như tiền chiến, và thiết tưởng rất có thể tìm được một chỗ thích hợp trong bản phân

loại Vũ Ngọc Phan không khó khăn. Vả lại xóa cả cái cũ để sắp xếp lại e làm cho chúng ta mất

phương hướng, khó bề theo dõi đuợc con đường chuyển biến của bộ môn tiểu thuyết từ thời kỳ

nọ sang thời kỳ kia. Chuyển biến thường thường do những phản ứng chống lại cái cũ: chủ nghĩa

lãng mạn là một phản ứng chối bỏ chủ nghĩa cổ điển, khuynh hướng tượng trưng trong thi ca là

phản ứng chống lại khuynh hướng lãng mạn, rồi tiểu-thuyết-mới là một phản ứng đối với thứ

tiểu thuyết gọi là hiện sinh v.v... Sau 1954 Miền Nam vẫn còn những nhà văn tiếp tục viết tiểu

thuyết theo quan niệm truyền thống, nhưng quả nhiên đồng thời có một phản ứng chống lại

truyền thống. Sự chống đối vượt ra ngoài phạm vi tiểu thuyết, phạm vi văn nghệ; sự chống đối

ấy bao trùm cả nếp sống trong xã hội, cả nếp tư tưởng, cả phong cách con người, cả bút pháp

các nhà văn như chúng ta đã thấy.

Vậy có lẽ tiểu thuyết thời kỳ 1954-75 nên chia ra làm hai dòng: một dòng truyền thống và một

dòng phản truyền thống.

Trong cái dòng truyền thống, có thể gặp lại một số khuynh hướng hồi tiền chiến, và để sắp xếp

vẫn có thể dùng bản phân loại Vũ Ngọc Phan, với ít nhiều gia giảm. Chẳng hạn:

Khuynh hướng luận đề: Nguyễn Mạnh Côn, Hồ Hữu Tường, Nhất Hạnh, Doãn Quốc Sỹ, Nguyễn

Mộng Giác...

Page 164: Tieu Thuyet Nong Thon

Khuynh hướng xã hội: Phan Du, Nguyễn Văn Xuân, Vũ Hạnh, Nguyễn Thụy Long...

Khuynh hướng phong tục: Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam...

Khuynh hướng tình cảm: Linh Bảo, Thanh Nam, Nhã Ca, Nguyễn Thị Vinh, Văn Quang...

Khuynh hướng luân lý: Nhật Tiến, Lê Tất Điều, Võ Hồng...

Khuynh hướng tâm lý: Nhất Linh, Tường Hùng...

Khuynh hướng tả chân: Nguyễn Đình Thiều, Thế Uyên...

Phản ứng lại truyền thống, hoặc người ta phản ứng bằng cách ngờ vực các giá trị cũ, nêu ra các

thắc mắc suy tư; hoặc phản ứng bằng cách chống lại nếp sinh hoạt cũ, sống theo một quan

niệm khác hẳn; hoặc giả trong phạm vi văn nghệ thì người ta phản ứng lại bằng cách chuyển

hướng sáng tác theo một quan điểm nghệ thuật mới. Như vậy dòng tiểu thuyết phản truyền

thống, có thể chia ra những khuynh hướng như sau:

Phản ứng trong suy tưởng: Thanh Tâm Tuyền, Dương Nghiễm Mậu...

Phản ứng trong nếp sống: Nguyễn Thị Hoàng, Chu Tử, Nguyễn Đình Toàn, Trần Thị NgH, Lệ

Hằng...

Phản ứng trong bút pháp: Huỳnh Phan Anh, Nguyễn Quốc Trụ, Nguyễn Đông Ngạc...

Hai khuynh hướng đầu thường được gọi chung là khuynh hướng hiện sinh; khuynh hướng thứ

ba là tiểu-thuyết-mới.

Kể ra giữa truyền thống với phản truyền thống cũng không đến nỗi xa lạ hẳn nhau: Văn Quang

viết về tình yêu, Nguyễn Thị Hoàng với Chu Tử cũng viết về tình yêu: Nhã Ca có nhiều truyện ái

tình, Trần Thị NgH cũng thế, đề tài và chủ đích giống nhau, tất cả có thể xếp chung cùng một

chỗ với nhau lắm. Tuy nhiên vì cái phong cách yêu đương mỗi bên mỗi khác, mà cái khác nhau

trong phong cách ấy phản ảnh cả một sự thay đổi sâu xa trong xã hội, trong lòng người mỗi

thời, vì vậy nên tách biệt vào hai dòng khác nhau.

 

ĐẶC ĐIỂM

 

Có lần, nhân phê bình Thạch Lam, Vũ Ngọc Phan có một nhận định khái quát về tiểu thuyết

Việt Nam. Ông bảo: (...) “ai đã có con mắt quan sát, đều phải công nhận rằng ở nước ta, khi

muốn viết một truyện ngắn hay một truyện dài cho đúng sự thật mà lại nồng nàn, đặc sắc

Page 165: Tieu Thuyet Nong Thon

không những thiếu nhân vật, mà còn thiếu cả cảnh nữa. Nhà tiểu thuyết Việt Nam không khỏi

có lúc phàn nàn: Thật thiếu hẳn ‘phông’ để viết cho thành một truyện có hứng thú.

Không phải nói một giọng khinh bạc, chứ thật ra ở nước ta đã thiếu hẳn màu, thiếu hẳn hình,

hẳn bóng, và điều quan hệ là thiếu cả cái cuộc đời thâm trầm, bí ẩn và nồng nàn, cái cuộc đời

về tinh thần căn cứ vào một khuôn khổ tôn giáo cao cả hay một nền xã hội rộng rãi. Ai dám

bảo người dân quê Việt Nam ta đã có một cuộc đời phiền phức như người dân quê Pháp dưới

ngòi bút sáng tác của Roger Martin du Gard, hay như người dân quê Ả-rập dưới ngòi bút dịch

thuật của bác sĩ Mardrus? Ai dám bảo những cảnh vật dưới trời Nam ta rực rỡ và có muôn hình

nghìn trạng như những cảnh vật ở Nhật hay ở Tàu? Một văn sĩ cũng như một họa sĩ, đứng trước

một người mặc áo màu nâu, bên cạnh một thửa ruộng mà đất cũng màu nâu nốt, lại dưới một

trời thu cũng như dưới một trời đông, hay dưới một trời xuân cũng như dưới một trời hạ, thì dù

có sẵn một cây bút xuất sắc cũng khó vẽ nên những màu tươi tốt được”[19].

Một nhà phê bình khác là Bùi Xuân Bào cùng viết về thời kỳ tiền chiến này, cũng có mấy nhận

định tổng quát. Theo ông Bùi thì: “Hai nhân vật được nhiều cảm tình nhất trong tiểu thuyết

Việt Nam hiện đại là nông dân và phụ nữ. Cứ mỗi lần một tiểu thuyết Việt Nam nói đến đời

sống thôn dã, dù thuộc khuynh hướng lãng mạn hay hiện thực, dù viết truyện phong tục hay

truyện xã hội, bao giờ tiểu thuyết gia ấy cũng mô tả các người dân quê bằng những nét cảm

động (...). Mặt khác, qua một số lớn tiểu thuyết gia hiện đại, người ta nhận lại được những nét

cố hữu của người phụ nữ Việt Nam. Thói quen cố gắng, dẻo dai, các đức tính thủy chung, nhẫn

nhục và hi sinh, những cái ấy không hề làm suy giảm tính nết dịu dàng và lòng thiết tha muốn

yêu và được yêu của người phụ nữ.”[20]

Ông Bùi lại thấy rằng chúng ta không có “những cuốn tiểu thuyết phiêu lưu hay tiểu thuyết

hành động lớn”[21].

Sau cùng ông Bùi tiếc rằng “so với toàn thể dân số thì số quần chúng độc giả học thức hãy còn

quá ít oi. Vì vậy họ (các nhà văn Việt Nam hiện đại) bị bắt buộc phải viết nhanh để kịp nộp bài

cho các tạp chí và nhật trình. Họ khó lòng dốc tâm vào những công trình dài hơi và sâu xa.”[22]

Các nhận xét ấy đối chiếu với tình hình tiểu thuyết sau 1954 đại khái vẫn còn đúng, ngoại trừ

trường hợp của nông dân và phụ nữ.

 

Người dân quê

Người dân quê, không phải họ mất cái cảm tình của các nhà văn nhưng họ vắng bóng dần dần

trên sách báo. Những tiểu thuyết gia thuộc giai đoạn 54-63 có viết về dân quê, và đa số các

người dân quê được nói đến trong các tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ, Võ Hồng, Sơn Nam, Bình

Nguyên Lộc, đều đáng yêu. Nhưng lớp tiểu thuyết gia trẻ tuổi thuộc giai đoạn sau thì chẳng

mấy ai nói đến dân quê nữa. Có thể hầu hết những nhà văn này sinh ra hay lớn lên ở đô thị;

Page 166: Tieu Thuyet Nong Thon

cũng có thể vì tình hình an ninh ở nông thôn về sau đâm ra tồi tệ, làm cho nông thôn cách biệt

hẳn thành thị, làm cho người dân quê khuất dạng và cái sinh hoạt đồng quê mờ nhạt hẳn trong

kỷ niệm của lớp tác giả và độc giả ở đô thị.

 

Người phụ nữ

Còn người phụ nữ thì không lúc nào vắng bóng, nhưng cái tình cảm dành cho họ trở nên phức

tạp hơn xưa. Trước hết, người mẹ thì vẫn giữ được trọn vẹn cảm tình, nếu không phải là một

thứ cảm tình thiết tha hơn. Thuở bình thời người ta thương mẹ một phần, lúc chiến tranh trải

qua tai ương hoạn nạn càng thương mẹ đến đôi ba phần: trong hoàn cảnh như thế còn ai trên

đời lo lắng cho ta hơn mẹ. Cho nên khắp nước vang lên một điệu kêu thương mẹ Việt Nam, mẹ

đau thương, mẹ gầy còm v.v... Bằng nhạc, bằng thơ, bằng họa, bằng tùy bút, hồi ký, và dĩ

nhiên bằng tiểu thuyết nữa.

Tai ương hoạn nạn cũng kích thích mạnh cái tình cảm đối với vợ con: trong thời 54-75 các thi sĩ

nói rất nhiều về vợ và con. Thơ cho con trai đầu lòng, cho đứa mới sinh, sắp sinh, cho vợ yêu

v.v..., những bài thơ như thế chắc chắn không có thời nào xuất hiện nhiều như thời này. Thời

mà Thượng Đế chết, mà cả cuộc sống trở nên vô nghĩa, hư ảo v.v.. thì các cục cưng trở nên

thật và lớn lao hơn bao giờ hết.

Tuy vậy cái tình cảm dành cho người vợ và người yêu trong thời kỳ này có chỗ phức tạp rắc rối

hơn trước nhiều. Nghịch cảnh oan khiên thử thách có khi làm cho tình thêm nồng nàn, người

thêm cao cả quí giá vô ngần; lại có khi gây nên đổ vỡ, thù hận không nguôi. Vả lại trong hoàn

cảnh xã hội loạn lạc, yêu đương cuồng vội, người đàn bà nết na nhất trên đời cũng dễ đánh rơi

mất những đức tính cố hữu của mình.

Ấy là chưa kể có những trường hợp phũ phàng, các tác giả trút nỗi bất bình đối với cuộc đời,

đối với xã hội, lên đầu những nhân vật phụ nữ tệ bạc. Bằng nét bạo liệt. Dương Nghiễm Mậu,

Nhã Ca... từng vẽ nên những hình bóng đàn bà dữ dằn. Trong truyện ‘Bạc như vôi’ [23], Nhã Ca kể

chuyện mẹ con cô Nhiên: cô con gái thù hằn khinh bỉ người mẹ lẳng lơ lang chạ để nhục cho

mình, cô ta thủ sẵn một con dao đón chận một thằng cha bần tiện vẫn ngủ với mẹ mình hỏi

thẳng vào mặt xem có phải “hắn” là cha mình không? “Hắn” lính quýnh không trả lời được, cô

gái vụt con dao, thằng cha nọ lách mình chuồn êm y hệt một đứa... bần tiện. Còn lại một mình,

đến lượt cô gái kêu trời, không biết cái thai chính mình đang mang trong bụng là của ai, của

thằng bồ nào!

Tuy với nét bút không mãnh liệt nhẫn tâm như thế, Nguyễn Đình Toàn, Lệ Hằng cũng phác họa

lắm mẫu phụ nữ kỳ lạ. Trong thiên truyện ‘Đóm lửa’[24] của Nguyễn Đình Toàn, một cô ca sĩ

khao khát danh vọng không coi chồng con ra gì, sẵn sàng bỏ chồng đi làm bé bất cứ một nhân

vật nào tạo được cho mình cơ hội nổi tiếng. Cô ta nói những điều rồ dại đến nỗi người chị phải

kêu: “Nổi tiếng như thế ăn cứt còn hơn.”

Page 167: Tieu Thuyet Nong Thon

“Nổi tiếng”, đó không phải là một khao khát của phụ nữ ngày xưa. Thời thế đổi thay, địa vị mới

của phụ nữ trong xã hội không khỏi ảnh hưởng đến tính tình, phong cách, nết na của họ. Vả lại

hồi trước hầu hết tiểu thuyết gia thuộc nam phái, họ nhìn về phía nữ giới với con mắt trìu mến;

sau này có nhiều nữ tiểu thuyết gia, đàn bà nhìn nhau cách khác.

Đến như cái nhận xét về tình cảnh nhà văn ở xứ ta thường phải viết vội vàng, không có dư thì

giờ để chuẩn bị, nghiền ngẫm chín chắn về tác phẩm nghệ thuật, để xây dựng những công

trình dài hơi sâu sắc, thì bây giờ ta phải buồn rầu nhận rằng tình cảnh vẫn chưa khác trước là

bao. Số người học thức có tăng, số lượng độc giả cũng có tăng, nhưng nhu cầu trong đời sống

nhà văn cũng mỗi ngày mỗi tăng theo cái đà chung của xã hội mới, cho nên sống bằng ngòi

bút ở nước ta vẫn cứ là chuyện gian nan. Nói chung, hầu hết những nhà văn chuyên nghiệp

đều phải làm việc vội vã.

 

Cái hùng vĩ bao la

Sau cùng xin trở lại với ý kiến của Vũ Ngọc Phan. Cái hay cái dở ở đâu cũng có; thiết tưởng

không thể nói Tây, Tàu, hay Nga, Mỹ viết hay hơn ta, cũng không thể nói ta viết hay hơn hay

kém thua Thái-lan, Ấn-độ, Phi-luật-tân v.v... Nhưng quả thực khi đọc một số tiểu thuyết của

Nga của Tàu, tôi có cảm tưởng về cuộc sống phiền tạp, mênh mông, cảm tưởng trước một cái

gì bát ngát bao la, điều không mấy khi bắt gặp ở tiểu thuyết Việt Nam. Chúng ta có thể làm

nên tác phẩm đẹp đẽ, hoàn thành những công trình tuyệt xảo, tuyệt đẹp, nhưng là công trình

gọn gàng, vừa vặn, mực thước, phải chăng. Ta không có cái phiền tạp bao la của Nga của Tàu,

và hình như ta cũng không có cái ác liệt của Nhật chẳng hạn. Trong một cuốn tiểu thuyết nọ

của Nhật có người yêu một cô gái mù, cô gái gặp nạn hỏng cả gương mặt xinh đẹp và cực kỳ

đau khổ với cái ý nghĩ anh chàng kia trông thấy khuôn mặt bị hủy hoại của mình; anh chàng

hiểu ý người yêu, lặng lẽ cầm cây kim đâm luôn vào cả hai mắt mình thành đui hẳn! Ấy là chưa

kể những cảnh người mổ bụng tự tử nhan nhản. Những cái quá đáng, dữ dội như thế — quá

đáng trong sự hung bạo cũng như trong hi sinh thánh thiện — làm ta cảm thấy rờn rợn trước sự

bí hiểm của tâm hồn con người.

Ở ta cảnh vật thì êm đềm, cuộc sống bình thường thì phẳng lặng, nhạt nhẽo, giản dị, tầm

thường (nhạt nhẽo, giản dị, tầm thường là những chữ của Vũ Ngọc Phan dùng trong đoạn nói

về Thạch Lam). Dân tộc ta không hay có hành động ngoạn mục: những hi sinh cao cả nhất

thường thường cũng âm thầm, lặng lẽ, ẩn dưới một bề ngoài giản dị.

Tại sao vậy? Ông Vũ nói đến cái thiếu một “cuộc đời về tinh thần căn cứ vào một khuôn khổ

tôn giáo cao xa hay một nền xã hội rộng rãi.” Quả có thế chăng? Hay hoặc giả nước ta vốn nhỏ

hẹp, nên tác phẩm nghệ thuật của ta không phản ảnh được cái lớn lao? Ở những quốc gia rộng

lớn như Nga, như Tàu cảnh trí muôn nghìn vẻ khác nhau: có núi cao sông dài, có sa mạc ngút

ngàn, mà cũng có hồ bể mênh mông, có nóng bức mà cũng có buốt giá tuyết băng v.v...; ở

những quốc gia như thế có những bộ lạc sơ khai đồng thời lại có hạng trí thức nổi danh khắp

Page 168: Tieu Thuyet Nong Thon

thế giới, có hạng nghèo khó cùng cực cũng có cảnh xa hoa phú quí tột trần v.v... Tầm mắt của

nhà văn xứ họ thật rộng rãi, những điều mắt thấy tai nghe của họ phong phú vô ngần. Còn ta

nước nhỏ đất hẹp, cái gì cũng vừa phải, cũng trung bình. Dân nghèo có nghèo, nhưng không

tìm đâu ra cô gái nghèo đến nỗi vào ở rừng đến mọc lông trắng; vua chúa thì giàu sang nhưng

cũng chẳng có gì là quá lộng lẫy. Chúa Nguyễn trong khi tiếp chuyện nhà sư Thích Đại Sán

nghe đám cháy cũng vội vã bỏ khách chạy đôn chạy đáo đốc thúc cuộc chữa cháy đến mệt

nhoài, không khác gì một lão phú hộ nhà quê. Và mãi sau này trong số các ông hoàng bà chúa

ở Huế, có lắm mệ cũng túng quẩn “chém” củ khoai đều đều, y hệt bách tính. Có phải đó cũng

là một lý do của cái tầm thường giản dị trong nghệ phẩm ta chăng? [25] Dù sao nét tâm hồn đặc

biệt của dân tộc không chỉ thể hiện trong tiểu thuyết mà thôi, người ta có thể nhận thấy ở khắp

các ngành nghệ thuật khác. Về kiến trúc, trong quá trình lịch sử lâu dài nhiều nghìn năm chúng

ta không có những công trình đồ sộ, chót vót, không có những giáo đường cao, những chùa

chiền thực sự qui mô, những thành quách như Vạn Lý Trường Thành bên Tàu, như lâu đài các

sứ quân bên Nhật, như Đế Thiên Đế Thích bên Miên v.v... Về hội họa điêu khắc, chúng ta không

có những bức họa to, những pho tượng lớn. Ngày xưa, chúng ta cũng không có trường ca, chỉ

có những câu hát nho nhỏ, xinh xinh.

(Sau này ở Miền Bắc có chủ nghĩa cộng sản — tác động trên tâm hồn như một thứ tôn giáo —

lại có cuộc chiến tranh tàn khốc, có cảnh sống nghèo cực tận cùng, có những yếu tố thay đổi

hẳn hoàn cảnh “tầm thường, nhạt nhẽo”. Tuy nhiên chế độ độc tài làm cho người nghệ sĩ lúc

nào cũng ngay ngáy lo lắng về lập trường, chính sách, làm cho dụng ý thuyết phục tuyên

truyền lộ rõ trong từng câu từng lời, thái độ ấy không làm nên được tính cách lớn lao trong tác

phẩm mà chỉ tạo ra những nhân vật rập khuôn, vô hồn, ngô nghê. Thật đáng tiếc, vì trong lớp

trẻ ở Miền Bắc có những nghệ sĩ có tài, chịu tu dưỡng công phu, bỏ nhiều thì giờ tiếp xúc với

thực tế, quan sát ghi nhận chu đáo về từng nhân vật, sự việc, khung cảnh trước khi đưa vào tác

phẩm.)

Trong khi ấy ở Miền Nam trong hai chục năm sau này cũng không hiếm những biến cố vượt

quá mức “tầm thường”, có thể cung hiến đề tài xứng đáng cho những tác phẩm vừa “đúng sự

thật” vừa “nồng nàn, đặc sắc”, nhưng hầu hết các tiểu thuyết gia lại được tự do chọn... sống xa

những hoàn cảnh gay cấn, nên không phản ảnh được cái thực tại nồng nàn đặc sắc của thời kỳ

này. Những trận chiến đấu hào hùng khốc liệt, những cảnh hi sinh cao cả, những tàn sát dã

man, những đau thương đứt ruột v.v... thường gặp trong các cuốn bút ký, các thiên phóng sự

mà hiếm thấy trong tiểu thuyết. Phóng sự, bút ký, hồi ký do ký giả chiến trường, do quân nhân

từng dự chiến về ghi chép; tiểu thuyết do các nhà văn vốn thường chọn sống ở đô thị, chọn tới

lui những chốn an toàn như tòa soạn, như... phòng trà ca nhạc. Họa hoằn mới có những trường

hợp một vài tiểu thuyết gia bị kẹt trong khu vực “nóng” (như Nhã Ca trong tết Mậu Thân chẳng

hạn), và mặc dù suốt thời gian mắc kẹt chỉ lo trốn nấp trong nhà trong hầm, bà vẫn có chất

liệu để viết nên những tác phẩm thật nồng nàn. Như vậy, đa số các tiểu thuyết gia Miền Nam,

về phương diện này lại cũng đáng tiếc nữa: họ bỏ mất cái cơ hội dành cho những cuốn “tiểu

thuyết hành động lớn” mà ông Bùi Xuân Bào cho là từ trước đến nay ta vẫn thiếu.

Page 169: Tieu Thuyet Nong Thon

Ngoài Bắc nhà văn chịu “đi thực tế” nhưng thiếu tự do; trong Nam nhà văn được tự do mà lại ít

chịu khó “đi thực tế”.

Vào thời kỳ sau 1954 ở Miền Nam có nhiều cố gắng tạo dựng những bộ trường thiên tiểu

thuyết, những công trình qui mô để phản ảnh giai đoạn lịch sử có nhiều biến cố lớn lao từ 1945

về sau. Tuy nhiên sách có dày mà chưa phản ảnh được cái nồng nàn, sôi động, dữ dội của cuộc

sống ngoài đời. Chưa phản ảnh đầy đủ. Chưa phản ảnh được bao nhiêu. Lần này chúng ta khó

đổ lỗi cho cuộc sống.

Dầu sao so với thời tiền chiến nhất định có thay đổi rõ rệt. Không thể bảo cuộc đời những người

dân quê trong Hương rừng Cà Mau của Sơn Nam, cuộc đời những nhân vật trong Cũng đành

của Dương Nghiễm Mậu, Tình ca trong lửa đỏ của Nhã Ca chẳng hạn là những cuộc đời nhạt

nhẽo, tầm thường.

Viết lời giới thiệu cuốn Nguyễn Huy Tưởng tuyển tập [26] , Tô Hoài bảo Nguyễn Huy Tưởng

“thường say sưa hình ảnh cuộc trường kỳ kháng chiến”, xem đó là “một trang sử thi hùng vĩ”,

ước ao có ngày có những tác giả dựng lại được cuộc kháng chiến ấy trong những tác phẩm

“tuyệt vời đẹp và vô cùng ly kỳ, hấp dẫn”. Tô Hoài nói về cuộc kháng chiến chống Pháp hồi

sinh thời của Nguyển Huy Tưởng. Lâu lắm về sau thứ tác phẩm ước ao ấy vẫn chưa ra đời, và

Phan Cự Đệ còn phải an ủi: “Chúng ta không nên sốt ruột lại sao bây giờ chưa có nhiều những

bộ tiểu thuyết lớn phản ảnh một cách qui mô cuộc chiến đấu vĩ đại của dân tộc ta trong hơn 25

năm nay. (...) Hiện nay chúng cần loại tiểu thuyết xung kích.”[27]. Lẽ nào thế? Lẽ nào chỉ cần

món xung kích còn món hùng vĩ kia chỉ để ước ao dài cổ, đừng viết ra mà cũng đừng nên sốt

ruột?

Ở trong Nam, có cuộc kháng chiến chống cộng, nhìn từ Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Đức, cho

đến An Lộc, cũng lắm điều “vô cùng ly kỳ hấp dẫn” vậy, và cũng lại có nhiều nhà văn ước ao có

ngày dựng lại những hình ảnh ấy. Sự ước ao chưa thành, ở trong Nam cũng như ngoài Bắc.

Cho đến bây giờ, chưa thấy chúng ta chứng tỏ cái sở trường, hay ít ra là cái khả năng về những

công trình nghệ thuật hùng vĩ bao la, mặc dù thời cuộc ba mươi năm trở lại đây trên khắp đất

nước đã cung cấp cho nhà văn những đề tài sôi động, “nồng nàn, đặc sắc, đầy hứng thú.”

 

 

Tóm lại, nhìn chung trong thời kỳ 54-75 ở Miền Nam bộ môn tiểu thuyết đã có một số chuyển

biến thuận lợi.

Sự xuất hiện một số đông tác giả nữ phái đem một không khí mới, một cái nhìn mới về cuộc

đời, một lối cảm xúc mới và cả những lối diễn tả, lời ăn tiếng nói mới, khác với cái tiểu thuyết

của nam giới từ xưa đến nay.

Page 170: Tieu Thuyet Nong Thon

Rồi ảnh hưởng của tiểu thuyết Mỹ, của quan niệm tiểu-thuyết-mới ở Pháp, của học thuyết

Freud, triết học hiện sinh v.v..., một mặt tăng cường khả năng biểu hiện của tiểu thuyết ta,

đem đến cho nó những dạng vẻ mới, mặt khác mở rộng phạm vi đề tài, khuynh hướng cho tiểu

thuyết ta.

Hơn nữa những biến thiên lớn lao và cuộc chiến tranh khốc liệt diễn ra trên đất nước là nguồn

cung ứng đề tài đặc sắc hiếm có thời nào theo kịp. Tiếc rằng chúng ta vẫn chưa có những cuốn

tiểu thuyết xứng đáng với tình hình đặc biệt ấy. Trong số các hạn chế của hoàn cảnh có thể kể

ngay cái xáo trộn đảo điên ấy khiến người viết bị cuộc sống khó khăn xô đẩy dồn dập, không

có thì giờ thai nghén nên công trình qui mô và sâu sắc chăng.

 

-----------

Đã đăng:

VĂN HỌC MIỀN NAM: TỔNG QUAN [1. Lời nói đầu]

VĂN HỌC MIỀN NAM: TỔNG QUAN [2. Khái quát]

VĂN HỌC MIỀN NAM: TỔNG QUAN [3. Các yếu tố của sinh hoạt văn học: Nhà văn]

VĂN HỌC MIỀN NAM: TỔNG QUAN [4. Các yếu tố của sinh hoạt văn học: Độc giả]

VĂN HỌC MIỀN NAM: TỔNG QUAN [5. Các yếu tố của sinh hoạt văn học: Xuất bản]

VĂN HỌC MIỀN NAM: TỔNG QUAN [6. Mấy nét tổng quát về nền văn học 1954-1975:

Bối cảnh]

VĂN HỌC MIỀN NAM: TỔNG QUAN [7. Mấy nét tổng quát về nền văn học 1954-1975:

Văn học & chính trị]

VĂN HỌC MIỀN NAM: TỔNG QUAN [8. Mấy nét tổng quát về nền văn học 1954-1975:

Văn học & tôn giáo / triết học]

VĂN HỌC MIỀN NAM: TỔNG QUAN [9. Mấy nét tổng quát về nền văn học 1954-1975:

Văn học & tính cách cực đoan]

VĂN HỌC MIỀN NAM: TỔNG QUAN [10. Mấy nét tổng quát về nền văn học 1954-1975:

Văn học & vai trò của miền Nam]

VĂN HỌC MIỀN NAM: TỔNG QUAN [11. Mấy nét tổng quát về nền văn học 1954-1975:

Văn học & tính cách tự do]

Page 171: Tieu Thuyet Nong Thon

VĂN HỌC MIỀN NAM: TỔNG QUAN [12. Mấy nét tổng quát về nền văn học 1954-1975:

Đối chiếu thành tích]

VĂN HỌC MIỀN NAM: TỔNG QUAN [13. Giai đoạn 1954-1963: Bối cảnh – Tình hình

trước 1954]

VĂN HỌC MIỀN NAM: TỔNG QUAN [14. Giai đoạn 1954-1963: Bối cảnh – Tình hình từ

1954]

VĂN HỌC MIỀN NAM: TỔNG QUAN [15. Giai đoạn 1954-1963: Văn học]

VĂN HỌC MIỀN NAM: TỔNG QUAN [16. Giai đoạn 1964-1975: Bối cảnh]

VĂN HỌC MIỀN NAM: TỔNG QUAN [17. Giai đoạn 1964-1975: Văn học]

_________________________

[1] Cao Huy Khanh, ‘Vấn đề khuynh hướng trong tiểu thuyết Miền Nam từ 1954 đến 1973’, tạp chí Thời Tập, Sài Gòn, số ra ngày 15-4-1974, trang 45.

[2] Duyên Anh, Áo tiểu thư, Nguyễn Đình Vượng xuất bản tại Sài Gòn năm 1971, trang 167.

[3] Văn Học giải phóng Miền Nam.

[4]Những ngày cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa, Tủ sách Nghiên Cứu Sử Địa xuất bản, Montréal, Gia-nã-đại, 1979.

[5]“En guerre contre les soucis didactiques et métaphysiques du roman “existentialiste”, des auteurs renouent avec the courant qui, depuis 1910, avait cherché à renouveler tous les arts.” Littérature francaise, Arthaud xuất bản, cuốn thứ 9, trang 178.

[6]“... laisse de côté deux genres qui connaissent à cete époque un développement important: le roman historique et le roman de la forêt.”, Bùi Xuân Bào, Le roman vietnamien contemporain, Tủ sách Nhân Văn Xã Hội xuất bản, Sài Gòn, 1972, trang 56.

[7] Vũ Ngọc Phan, Nhà văn hiện đại, Đại Nam tái bản tại Hoa Kỳ, quyển 4, trang 964, 965.

[8] Doãn Quốc Sỹ, Những ngả sông trên dòng đời, Tinh Hoa Miền Nam tái bản, Hoa Kỳ, trang 166.

[9] Tạp chí Văn, Sài Gòn, số 209 ra ngày 1-9-1972, trang 4 và 5.

[10] Tap chí Văn, Sài Gòn, số 197.

[11] Dương Quảng Hàm, Việt Nam văn học sử yếu, bộ Quốc gia Giáo dục xuất bản, Hà Nội, 1951.

[12] Vũ Ngọc Phan, Nhà văn hiện đại, Tân Dân xuất bản, Hà Nội, 1942-1945.

[13]Introduction to literature and fiction, Saigon Faculty of Letters, 1972.

[14] Tủ sách Nhân Văn Xã Hội xuất bản, Sài Gòn.

[15] Xuất bản năm 1944, tái bản năm 1953 tại Hà Nội.

Page 172: Tieu Thuyet Nong Thon

[16] Dẫn theo Bùi Xuân Bào, Le roman vietnamien contemporain, trang 57, 58.

[17] Phan Cự Đệ, Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, tập I, nhà xuất bản Đại Học Và Trung Học Chuyên Nghiệp, Hà Nội, 1974, trang 52 và 53.

[18] ‘Vấn đề khuynh hướng trong tiểu thuyết Miền Nam tữ 1954 đến 1973’, tạp chí Thời Tập, số ra ngày 15-4-74, trang 45.

[19] Nhà văn hiện đại, Đại Nam (Hoa Kỳ) in lại theo ấn bản do nhà xuất bản Thăng Long in lần thứ III ở Sài Gòn năm 1960, quyển IV, tập ba, trang 1153.

[20]“Les deux personnages les phus sympathiques du roman vietnamien contemporain sont le paysan et la femme. Chaque fois qu’un romancier vietnamien touche à la vie rustique, qu’il soit romantique ou réaliste, qu’il soit romancier des moeurs ou romancier social, in ne manque pas de dépeindre les gens de la campagne sous des traits touchants (...) D’autre part, à travers un grand nombre de romanciers contemporains, on retrouve les traits permanents de la femme vietnamienne. L’habitude de l’effort, de la tenacité, les vertus de fidélité, de résignation et de sacrifice, ne diminuent en elle ni la douceur du caractère ni le besion de donner et de recevoir la tendresse (...) in n’y a pas de grands romans d’aventures ou de grands romans d’action (...) le public lettré est encore très restraint par rapport à l’ensemble de la population. Ausi sont-ils obligés d’écrire vite pour fournir de la copie à divers revues et journaux. In leur est difficile de se consacrer à des ouvrages de longue haleine et profondément médités.” Bùi Xuân Bào, sđd, trang 376-380.

[21] Sđd.

[22] Sđd.

[23] Tạp chí Vấn Đề, Sài Gòn, số Xuân 1972.

[24] Tạp chí Văn, phát hành tại Sài Gòn ngày 5-12-74.

[25] Tô Hoài cũng từng suy nghĩ về đặc điểm này của tiểu thuyết Việt Nam, cũng đã thử suy đoán xem vì sao ta không có công trình lớn lao. Trên tạp chí Văn Học (số 3-1972) ông viết: “Gọn, trong sáng, nhanh – đặc biệt của truyện Việt Nam (...). Truyện bộ của ta như Hoàng Lê nhất thống chí cũng thật gọn, thật trong sáng, thật nhanh. Có phải từ đặc điểm đời sống dân tộc và đất nước đã sinh ra lối kể, lối viết như thế? Có phải cuộc đời một dân tộc mà lịch sử dày đặc những gian khổ chống ngoại xâm, những khai phá mở mang, những tần tảo thắt lưng buộc bụng cả nghìn năm dựng nước chưa bao giờ biết có một lúc dừng chân đã tạo nên những cách thức cho lối truyện ấy không?... Có phải cảnh gian khó của con người và đất nước Việt Nam đã tạo nên ý chí cuộc đời thế và cũng tạo nên cả cách kể câu chuyện, lời tâm sự hay câu chuyện mua vui không thể dài dòng. Đời người hôm sớm lẽo đẽo đầu sông cuối bãi, chưa lúc nào được thư thái nhàn tàn cả.”

[26] Nhà xuất bản Tác Phẩm Mới in tại Sài Gòn năm 1978.

[27] Phan Cự Đệ, sđd, tập I, trang 264, 265.